|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/HNGĐ-PT
Ngày: 25/02/2025
“V/v tranh chấp tài sản chung sau ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hằng và ông Nguyễn Văn Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Minh Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 25/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 32/2024/TLPT-HNGĐ ngày 07/10/2024, về việc “Tranh chấp tài sản chung sau ly hôn”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 41/2024/QĐ-PT ngày 29/11/2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐ-PT ngày 26/12/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị O - sinh năm: 1975; địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông; Có mặt.
- - Bị đơn: Ông Phạm Ngọc V - sinh năm: 1974; địa chỉ: Buôn E, xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
- - Người đại diện theo ủy quyền của ông V: Bà Hoàng Thanh T, sinh năm 1973; địa chỉ: Số B L, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Mạnh T1; Địa chỉ: Xóm A, thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt.
- - Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Ngọc V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị O trình bày: Bà Nguyễn Thị O và ông Phạm Ngọc V trước đây là vợ chồng nhưng đã ly hôn theo Quyết định số 74/2019/QÐST-HNGĐ ngày 04/09/2019. Trong thời kỳ hôn nhân bà O và ông V đã tạo dựng được các tài sản chung như sau:
- - Thửa đất số 1119, tờ bản đồ số 06, diện tích 149,8m², địa chỉ thửa đất: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông đã được Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Nông cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 165004 ngày 27/02/2015 đứng tên ông Phạm Ngọc V và bà Nguyễn Thị O, trên đất có 01 căn nhà cấp 4.
- - Thửa đất số 75, tờ bản đồ số 49, diện tích 5234,7m², địa chỉ thửa đất buôn E, xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk đã được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 450591 ngày 26/04/2019 đứng tên ông Phạm Ngọc V và bà Nguyễn Thị O. Tài sản trên đất có cây sầu riêng, cây tiêu, cây nhãn, cây chôm chôm, cây vải, 01 nhà gỗ, 01 nhà tôn khung sắt, 01 cái giếng khoan.
- - Thửa đất số 18, tờ bản đồ số 49, diện tích 3245m², địa chỉ thửa đất buôn E, xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, đất được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 450592 ngày 26/04/2019 đứng tên ông Phạm Ngọc V và bà Nguyễn Thị O. Tài sản trên đất có cây sầu riêng, cây xoài, hàng rào lưới B40 có 100 trụ bê tông.
Ngày 06/07/2021 giữa bà O với ông V đã lập biên bản thỏa thuận phân chia tài sản và nợ, có sự chứng kiến của đại diện Ủy ban nhân dân xã E. Tuy nhiên sau đó hai bên không thực hiện được theo nội dung biên bản và có sự tranh chấp. Nay bà O yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nói trên sau khi ly hôn như sau:
- - Bà O có nguyện vọng được nhận các tài sản là thửa đất số 1119, tờ bản đồ số 06, diện tích 149,8m² thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông, đất đã được Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Nông cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 165004 ngày 27/02/2015 đứng tên ông Phạm Ngọc V và bà Nguyễn Thị O cùng toàn bộ tài sản trên đất để sở hữu, sử dụng.
- - Giao toàn bộ thửa đất số 18, tờ bản đồ số 49, diện tích 5.245m² và thửa đất số 75, tờ bản đồ số 49, diện tích 5234,7m² tại buôn E, xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, đất đã được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 450592 và BT 450592 ngày 26/04/2019 đứng tên ông Phạm Ngọc V và Nguyễn Thị O cùng toàn bộ tài sản trên đất (trừ tài sản trên đất của ông T1) cho ông Phạm Ngọc V để sở hữu, sử dụng. Yêu cầu ông V có nghĩa vụ thanh toán phần chênh lệch giá trị về tài sản cho bà O.
Đối với việc ông V chuyển nhượng cho ông Nguyễn Mạnh T1 một phần diện tích của thửa đất số 75, tờ bản đồ số 49 buôn E, xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk thì bà O không biết và bà không đồng ý với việc mua bán này.
Đối với các cây trồng và tài sản được tạo lập từ năm 2020 đến nay trên thửa đất số 18 và thửa đất số 75 (phần ông V đang quản lý sử dụng) bà O xác định không phải là tài sản chung giữa bà với ông V. Đối với các tài sản nằm trên thửa đất số 75 (phần ông T1 đang quản lý sử dụng) bà O xác định đây là tài sản của ông T1 và bà không có tranh chấp.
Về nợ chung bà O không yêu cầu giải quyết và không có yêu cầu gì khác.
* Bị đơn ông Phạm Ngọc V trình bày: Ông Phạm Ngọc V và bà Nguyễn Thị O trước đây là vợ chồng, năm 2019 thì ly hôn theo Quyết định số 74/2019/QÐST-HNGĐ ngày 04/09/2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông. Sau khi ly hôn, ngày 06/07/2021 giữa bà O với ông V đã lập biên bản phân chia tài sản và nợ chung có sự chứng kiến của đại diện Ủy ban nhân dân xã E. Các bên thỏa thuận bà O nhận thửa đất số 1119, tờ bản đồ số 06, diện tích 149,8m² thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông, đất đã được Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Nông cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 165004 ngày 27/02/2015 đứng tên ông Phạm Ngọc V và bà Nguyễn Thị O và toàn bộ tài sản trên đất cùng diện tích đất ruộng để quản lý và sở hữu. Ông Phạm Ngọc V nhận các tài sản là thửa đất số 18, tờ bản đồ số 49, diện tích 5245m² và thửa đất số 75, tờ bản đồ số 49, diện tích 5234,7m² và các tài sản trên đất để quản lý, sử dụng.
Tháng 09/2022 ông V có chuyển nhượng (bằng giấy viết tay) cho ông Nguyễn Mạnh T1 một phần diện tích đất nằm trong thửa đất số 75 để làm nhà ở, diện tích đất chuyển nhượng cho ông T1 có chiều ngang theo mặt đường nhựa là 20 mét, chiều dài hết đất với giá 400.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng ông Nguyễn Mạnh T1 đã xây nhà cấp 4, dựng hàng rào thép B40 và trồng cây trên đất và quản lý sử dụng ổn định đến nay nhưng các bên chưa thực hiện thủ tục chuyển nhượng đất theo quy định của pháp luật.
Ông Phạm Ngọc V xác định các tài sản mà bà O yêu cầu phân chia là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên ông Phạm Ngọc V không đồng ý phân chia theo yêu cầu khởi kiện của bà O vì giữa ông và bà O đã thực hiện xong việc phân chia tài sản chung vào năm 2021 theo Biên bản thỏa thuận phân chia tài sản và nợ được UBND xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk chứng thực số 102 Quyển số 01/2021 – SCT/CK,ĐC ngày 07/7/2021.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Mạnh T1 trình bày: Đầu năm 2023 ông có nhận chuyển nhượng bằng giấy tay của ông Phạm Ngọc V diện tích đất chiều ngang theo mặt đường nhựa là 20 mét, dài hết đất, giá chuyển nhượng là 420 triệu đồng, phần đất này thuộc một phần thửa đất số 75, tờ bản đồ số 49 diện tích 5234,7m² địa chỉ thửa đất tại buôn E, xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi nhận chuyển nhượng ông T1 đã xây nhà cấp 4 với diện tích 8 mét x 16 mét = 128m², tổng chi phí hết 900 triệu đồng làm hàng rào, trồng cây trên đất và quản lý sử dụng ổn định đến nay. Đối với việc bà O khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng giữa ông Phạm Ngọc V với bà O, trong đó có diện tích đất ông T1 đã mua của ông V thì ông T1 không đồng ý.
Tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 144, 147, 157, 165, 217, 235, 266 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 59, Điều 60, 62 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ tư pháp;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị O về việc yêu cầu phân chia tài sản chung sau ly hôn với ông Phạm Ngọc V.
1. Về tài sản chung:
- - Giao cho bà Nguyễn Thị O sở hữu các tài sản sau: Toàn bộ diện tích đất 149,8m² thuộc thửa đất số 1119, tờ bản đồ số 06 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 165004 được Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 27/02/2015 tại thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông, có vị trí tứ cận như sau: Phía tây giáp thửa đất số 1118 có cạnh dài 28.29m; phía đông giáp thửa đất số 1120 có cạnh dài 27.10m; phía bắc giáp nhà dân có cạnh dài 1.59m + 3.53m; phía nam giáp đường liên thôn vào chợ có cạnh dài 5.01m và toàn bộ tài sản trên đất là 01 nhà xây cấp 4 có diện tích 77.5m² có kết cấu móng đá hộc, tường xây gạch ống 10cm, bả matic, sơn nước, lát gạch Ceramic, mái lợp tôn, trần nhựa, cửa gỗ; có gác lùng mê đúc, cầu thang gỗ cùng với mái vòm, cổng sắt, hàng rào và nhà vệ sinh được xây dựng năm 2013.
-
- Giao cho ông Phạm Ngọc V sở hữu các tài sản:
- Toàn bộ diện tích đất 5234.7m² thuộc thửa đất số 75, tờ bản đồ số 49 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 450591 được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 26/4/2019 tại buôn E, xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, có vị trí tứ cận như sau: Phía tây giáp đường tỉnh lộ có cạnh dài 16.88m + 20.10m; phía đông giáp đất ruộng có cạnh dài 5,13m + 7,42m + 7.81m + 11.38m + 10.19m; phía bắc giáp đường bê tông liên xã có cạnh dài 10.35m + 62,91m + 37,31m + 49,96m; phía nam giáp thửa đất số 18 có cạnh dài 8.33m + 48,06m + 31,59m + 11,33m + 28,38m và tài sản trên đất là 01 nhà tôn khung sắt, nền lát xi măng có diện tích 24m²; 01 nhà gỗ diện tích 78m² mái lợp tôn, nền xi măng; 20 cây Sầu riêng trồng năm 2018; 30 cây Sầu riêng trồng năm 2019; 10 tru tiêu lớn; 40 trụ tiêu nhỏ; 10 cây nhãn trồng năm 2019; 02 cây chôm chôm trồng năm 2019; 01 cây vải trồng năm 2019; 01 giếng khoan sâu 80m.
- Toàn bộ diện tích đất 3245m² thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ số 49 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 450592 được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 26/4/2019 tại buôn E, xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, có vị trí tứ cận như sau: Phía tây giáp đường tỉnh lộ có cạnh dài 20.88m + 3.98m; phía đông giáp đất ruộng có cạnh dài 19,79m; phía bắc giáp thửa đất số 75 có cạnh dài 8,33m + 48,06m+ 31,59m + 11,33m + 28,38m + 6,86m; phía nam giáp thửa đất số 20 có cạnh dài 8.75m + 71,19m + 13,19m + 14,82m + 21,63m và tài sản trên đất là 50 cây sầu riêng trồng năm 2018.
- - Bà Nguyễn Thị O và ông Phạm Ngọc V có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để thực hiện các trình tự, thủ tục đăng ký, điều chỉnh biến động của các thửa đất và diện tích đất đã được giao sở hữu nói trên.
- - Đối với nghĩa vụ thanh toán do chêch lệch về giá trị tài sản: Buộc ông Phạm Ngọc V có nghĩa vụ thanh toán phần chênh lệch về giá trị của tài sản chung cho bà Nguyễn Thị O số tiền là 333.785.500 đồng.
2. Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí xem xét, thẩm định, định giá tài sản, tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
* Kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/8/2024, ông Phạm Ngọc V có đơn kháng cáo và đến ngày 21/10/2024 ông V có đơn xin thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm, công nhận giá trị pháp lý của Biên bản thỏa thuận phân chia tài sản và nợ được UBND xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk chứng thực số 102 Quyển số 01/2021 – SCT/CK,ĐC ngày 07/7/2021.
* Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn ông Phạm Ngọc V giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gồm Giấy mua bán viết tay ngày 01/8/2021 thể hiện nội dung ông Lê Đình T2 bán lại cho ông V 01 nhà tôn khung sắt, nền lát xi măng diện tích 24m² nằm trên thửa đất số 75. Quyết định số 1681/QĐ-UBND ngày 16/5/2024 của UBND huyện L về việc hỗ trợ chi phí sửa chữa nhà ở. Các giấy xác nhận của ông Hà Văn N, ông Lữ Văn R xác định đường dây điện 3 pha nằm trên thửa đất số 18 mà ông V đang sử dụng là do ông Vân đấu N1 và sử dụng chung với ông R, ông N từ tháng 01/2023. Các giấy biên nhận mua cây giống ngày 10/5/2020, ngày 02/9/2021, ngày 12/4/2022. Ông V yêu cầu Tòa án xác định các tài sản gồm 01 nhà tôn khung sắt, nền lát xi măng diện tích 24m², 01 nhà gỗ diện tích 78m² mái lợp tôn, nền xi măng, đường dây điện 3 pha và các cây trồng gồm sầu riêng, tiêu, nhãn trồng trên thửa đất số 75 và thửa đất số 18 từ năm 2020 là tài sản riêng của ông vì các tài sản này được ông tạo lập sau khi ly hôn và thỏa thuận phân chia tài sản với bà O.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị O giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và thừa nhận các tài sản gồm 01 nhà tôn khung sắt nền lát xi măng diện tích 24m², 01 nhà gỗ diện tích 78m² mái lợp tôn, nền xi măng nằm trên thửa đất số 75, đường dây điện 3 pha không phải là tài sản chung của bà và ông V. Bà O đồng ý khấu trừ giá trị các tài sản này trong khối tài sản chung.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk có quan điểm như sau:
- - Về thủ tục tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến ngày mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử cũng như các đương sự đã tuân thủ đầy đủ và thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
-
- Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các chứng cứ, tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Phạm Ngọc V – Sửa bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk theo hướng:
- Giao cho bà Nguyễn Thị O sở hữu toàn bộ thửa đất số 1119, tờ bản đồ số 06, diện tích 149,8m² tại thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 165004 được Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 27/02/2015 cùng toàn bộ tài sản trên đất.
- Giao cho ông Phạm Ngọc V sở hữu các tài sản: Toàn bộ thửa đất số 75, tờ bản đồ số 49, diện tích đất 5234.7m² tại buôn E, xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 450591 được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 26/4/2019 và toàn bộ thửa đất số 18, tờ bản đồ số 49, diện tích 3245m² tại buôn E, xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 450592 được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 26/4/2019 cùng toàn bộ tài sản trên đất.
- Buộc ông Phạm Ngọc V có nghĩa vụ thanh toán phần chênh lệch về giá trị của các tài sản chung cho bà Nguyễn Thị O theo kết quả định giá tài sản tương ứng với phần tài sản được phân chia sở hữu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Phạm Ngọc V Đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nên vụ án được thụ lý, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét kháng cáo của ông Phạm Ngọc V về việc yêu cầu Tòa án phúc thẩm hủy án sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của bà O, công nhận sự thỏa thuận của ông V, bà O về việc phân chia tài sản tại Biên bản thỏa thuận phân chia tài sản và nợ được Ủy ban nhân dân xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk chứng thực số 102 Quyển số 01/2021-SCT/CK,ĐC ngày 07/7/2021 thấy rằng: Tại thời điểm ly hôn theo Quyết định số 74/2019/QÐST-HNGĐ ngày 04/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông, ông V và bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung mà tự thỏa thuận với nhau. Tuy nhiên sau đó hai bên không thực hiện theo nội dung thỏa thuận và bà O khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nên Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết là phù hợp.
[2.2] Về xác định tài sản chung của vợ chồng: Căn cứ trình bày và thừa nhận của các đương sự, kết quả thẩm định, định giá tài sản và tài liệu, chứng cứ đã thu thập. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định và phân chia tài sản chung của ông V và bà O như đã thể hiện tại phần quyết định của bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lắk là phù hợp.
Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, bà O và ông V cùng xác định và thừa nhận các tài sản gồm: 01 nhà tôn khung sắt, nền lát xi măng diện tích 24m² có giá 21.600.000 đồng; 01 nhà gỗ diện tích 78m² mái lợp tôn, nền xi măng có giá 22.674.000 đồng; đường dây điện 3 pha có giá 9.500.000 đồng là các tài sản ông V mua và tạo lập sau thời điểm ly hôn, bà O đồng ý khấu trừ giá trị các tài sản này cho ông V. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận, xác định lại các tài sản chung của ông V, bà O và phân chia cụ thể như sau:
[2.2.1] Giao cho bà Nguyễn Thị O sở hữu toàn bộ thửa đất số 1119, tờ bản đồ số 06, diện tích 149,8m² tại thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 165004 do Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 27/02/2015. Thửa đất có vị trí tứ cận như sau: Phía tây giáp thửa đất số 1118 có cạnh dài 28.29m; phía đông giáp thửa đất số 1120 có cạnh dài 27.10m; phía bắc giáp nhà dân có cạnh dài 1.59m + 3.53m; phía nam giáp đường liên thôn vào chợ có cạnh dài 5.01m cùng toàn bộ tài sản trên đất là 01 nhà xây cấp 4 có diện tích 77.5m² có kết cấu móng đá hộc, tường xây gạch ống 10cm, bả matic, sơn nước, lát gạch Ceramic, mái lợp tôn, trần nhựa, cửa gỗ; có gác lửng mê đúc, cầu thang gỗ cùng với mái vòm, cổng sắt, hàng rào và nhà vệ sinh được xây dựng năm 2013.
Tổng giá trị đất và tài sản gắn liền với đất theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty TNHH thẩm định giá và đo đạt định giá B có trị giá là 1.381.879.252 đồng (một tỷ ba trăm tám mươi mốt triệu tám trăm bảy mươi chín ngàn hai trăm năm mươi hai đồng)
[2.2.2] Giao cho ông Phạm Ngọc V sở hữu các tài sản chung gồm:
(Giá trị các tài sản được xác định theo Biên bản định giá ngày 07/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện L)
- - Toàn bộ thửa đất số 75, tờ bản đồ số 49, diện tích 5234.7m² tại buôn E, xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 450591 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 26/4/2019. Đất có vị trí tứ cận như sau: Phía tây giáp đường tỉnh lộ có cạnh dài 16.88m + 20.10m; phía đông giáp đất ruộng có cạnh dài 5,13m + 7,42m + 7.81m + 11.38m + 10.19m; phía bắc giáp đường bê tông liên xã có cạnh dài 10.35m + 62,91m + 37,31m + 49,96m; phía nam giáp thửa đất số 18 có cạnh dài 8.33m + 48,06m + 31,59m + 11,33m + 28,38m. Giá trị thửa đất là 941.000.000 đồng.
Tài sản chung của ông V, bà O trên thửa đất số 75 gồm: 20 cây Sầu riêng trồng năm 2018 có giá 115.040.000 đồng; 30 cây Sầu riêng trồng năm 2019 có giá 135.900.000 đồng; 10 trụ tiêu lớn có giá 7.072.000 đồng; 40 trụ tiêu nhỏ ó giá 2.976.000 đồng; 10 cây nhãn trồng năm 2019 có giá 8.900.000 đồng; 02 cây chôm chôm trồng năm 2019 có giá 1.298.000 đồng; 01 cây vải trồng năm 2019 có giá 890.000 đồng; 01 giếng khoan sâu 80m (không kèm bơm và dây điện) có giá 45.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chung của ông V, bà O trên đất là 317.076.000 đồng.
Tổng giá trị đất và tài sản chung trên đất là 1.258.076.000 đồng (một tỷ hai trăm năm mươi tám triệu không trăm bảy mươi sáu ngàn đồng)
- - Toàn bộ thửa đất số 18, tờ bản đồ số 49, diện tích 3245m² tại buôn E, xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 450592 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 26/4/2019. Đất có vị trí tứ cận như sau: Phía tây giáp đường tỉnh lộ có cạnh dài 20.88m + 3.98m; phía đông giáp đất ruộng có cạnh dài 19,79m; phía bắc giáp thửa đất số 75 có cạnh dài 8,33m + 48,06m+ 31,59m + 11,33m + 28,38m + 6,86m; phía nam giáp thửa đất số 20 có cạnh dài 8.75m + 71,19m + 13,19m + 14,82m + 21,63m. Giá trị thửa đất là 500.000.000 đồng. Tài sản chung của ông V, bà O trên thửa đất số 18 là 50 cây sầu riêng trồng năm 2018 có giá 226.500.000 đồng.
Tổng giá trị đất và tài sản chung trên đất là 726.500.000 đồng (bảy trăm hai mươi sáu triệu năm trăm ngàn đồng).
Như vậy, tổng giá trị các tài sản chung mà ông V và bà O tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là (1.381.879.252 + 1.258.076.000 + 726.500.000) = 3.336.455.252 đồng. Xét công sức đóng góp tạo lập khối tài sản chung của ông V và bà O là ngang nhau nên cần chia đôi để mỗi người được hưởng ½ tổng giá trị tài sản chung, cụ thể: (3.336.455.252 đồng : 2) = 1.683.277.626 đồng.
Do ông V được nhận phần tài sản có tổng giá trị là 1.984.576.000 đồng nên cần buộc ông V có nghĩa vụ thanh toán phần chênh lệch giá trị tài sản cho bà O với số tiền (1.984.576.000 - 1.683.277.626) = 301.348.376 đồng.
Bà Nguyễn Thị O và ông Phạm Ngọc V có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để thực hiện các trình tự, thủ tục đăng ký, điều chỉnh biến động của các thửa đất và diện tích đất đã được giao sở hữu nói trên.
[2.3] Đối với các tài sản gồm: 01 nhà tôn khung sắt, nền lát xi măng diện tích 24m²; 01 nhà gỗ diện tích 78m² mái lợp tôn, nền xi măng; đường dây điện 3 pha; 20 trụ tiêu trồng năm 2021, 150 cây mít trồng năm 2021, 03 cây vải trồng năm 2021, 03 cây hương trồng năm 2021, 02 cây xoài, hàng rào 100 trụ bê tông, lưới B40 được ông V tạo lập sau sau thời điểm ly hôn nên đây không phải tài sản chung vợ chồng mà đây là tài sản riêng của ông V.
[2.4] Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[2.5] Đối với một phần diện tích đất của thửa đất số 75 cùng tài sản trên đất mà ông Nguyễn Hữu T3 đang quản lý sử dụng, do trong quá trình giải quyết vụ án ông T3 không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. Trong trường hợp có tranh chấp, ông Nguyễn Hữu T3 được quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Phạm Ngọc V. Sửa một phần bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lắk.
[3] Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
[3.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị O và ông Phạm Ngọc V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với phần giá trị tài sản được phân, cụ thể số tiền án phí mà ông V, bà O mỗi người phải nộp là: 1.683.277.626 đồng = [36.000.000 + 26.498.329 (883.277.626 x 3%)] = 62.458.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị O được khấu trừ số tiền 13.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0003856 ngày 22/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk. Số tiền án phí dân sự sơ thẩm mà bà O còn phải nộp là 49.498.329 đồng.
[3.1] Án phí dân sự phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm nên ông Phạm Ngọc V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Phạm Ngọc V số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà ông V đã nộp theo Biên lai thu số AA/2022/0004007 ngày 28/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
[4] Về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản: Ông Phạm Ngọc V có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị O 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Ngọc V – Sửa một phần Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 144, 147, 157, 165, 217, 235, 266 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 59, Điều 60, 62 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ tư pháp;
Căn cứ điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị Quyết.
* Tuyên xử:
[2.1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị O về việc yêu cầu phân chia tài sản chung sau khi ly hôn với ông Phạm Ngọc V.
[2.1.1] Về tài sản chung:
- * Giao cho bà Nguyễn Thị O sở hữu: Toàn bộ thửa đất số 1119, tờ bản đồ số 06, diện tích 149,8m² tại thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 165004 do Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 27/02/2015. Thửa đất có vị trí tứ cận như sau: Phía tây giáp thửa đất số 1118 có cạnh dài 28.29m; phía đông giáp thửa đất số 1120 có cạnh dài 27.10m; phía bắc giáp nhà dân có cạnh dài 1.59m + 3.53m; phía nam giáp đường liên thôn vào chợ có cạnh dài 5.01m cùng toàn bộ tài sản trên đất là 01 nhà xây cấp 4 có diện tích 77.5m² có kết cấu móng đá hộc, tường xây gạch ống 10cm, bả matic, sơn nước, lát gạch Ceramic, mái lợp tôn, trần nhựa, cửa gỗ; có gác lửng mê đúc, cầu thang gỗ cùng với mái vòm, cổng sắt, hàng rào và nhà vệ sinh được xây dựng năm 2013.
-
* Giao cho ông Phạm Ngọc V sở hữu các tài sản gồm:
- Toàn bộ thửa đất số 75, tờ bản đồ số 49, diện tích 5234.7m² tại buôn E, xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 450591 được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 26/4/2019, có vị trí tứ cận như sau: Phía tây giáp đường tỉnh lộ có cạnh dài 16.88m + 20.10m; phía đông giáp đất ruộng có cạnh dài 5,13m + 7,42m + 7.81m + 11.38m + 10.19m; phía bắc giáp đường bê tông liên xã có cạnh dài 10.35m + 62,91m + 37,31m + 49,96m; phía nam giáp thửa đất số 18 có cạnh dài 8.33m + 48,06m + 31,59m + 11,33m + 28,38m và tài sản trên đất là 01 nhà tôn khung sắt, nền lát xi măng có diện tích 24m²; 01 nhà gỗ diện tích 78m² mái lợp tôn, nền xi măng; 20 cây Sầu riêng trồng năm 2018; 30 cây Sầu riêng trồng năm 2019; 10 trụ tiêu lớn; 40 trụ tiêu nhỏ; 10 cây nhãn trồng năm 2019; 02 cây chôm chôm trồng năm 2019; 01 cây vải trồng năm 2019; 01 giếng khoan sâu 80m cùng máy bơm và đường dây điện 3 pha.
- Toàn bộ thửa đất số 18, tờ bản đồ số 49, diện tích 3245m² tại buôn E, xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 450592 được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 26/4/2019, có vị trí tứ cận như sau: Phía tây giáp đường tỉnh lộ có cạnh dài 20.88m + 3.98m; phía đông giáp đất ruộng có cạnh dài 19,79m; phía bắc giáp thửa đất số 75 có cạnh dài 8,33m + 48,06m + 31,59m + 11,33m + 28,38m + 6,86m; phía nam giáp thửa đất số 20 có cạnh dài 8.75m + 71,19m + 13,19m + 14,82m + 21,63m và tài sản trên đất là 50 cây sầu riêng trồng năm 2018; 20 trụ tiêu trồng năm 2021, 150 cây mít trồng năm 2021, 03 cây vải trồng năm 2021, 03 cây hương trồng năm 2021, 02 cây xoài, hàng rào 100 trụ bê tông, lưới B40.
- * Buộc ông Phạm Ngọc V có nghĩa vụ thanh toán phần chênh lệch về giá trị của tài sản chung cho bà Nguyễn Thị O số tiền 301.348.376 đồng.
- * Bà Nguyễn Thị O và ông Phạm Ngọc V có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để thực hiện các trình tự, thủ tục đăng ký, điều chỉnh biến động của các thửa đất và diện tích đất đã được giao sở hữu nói trên.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.1.2] Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[2.2] Về án phí:
[2.2.1] Án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị O phải chịu 62.458.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 13.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0003856 ngày 22/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk. Số tiền án phí dân sự sơ thẩm mà bà O còn phải nộp là 49.498.329 đồng.
Ông Phạm Ngọc V phải chịu 62.458.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
[2.2.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Ngọc V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Phạm Ngọc V số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà ông V đã nộp theo Biên lai thu số AA/2022/0004007 ngày 28/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
[2.3] Về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản: Buộc ông Phạm Ngọc V có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị O 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
[3] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM |
| - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| - TAND huyện Lắk; | |
| - VKSND huyện Lắk; | |
| - Chi cục THADS huyện Lắk; | |
| - Các đương sự; | |
| - Lưu hồ sơ. | |
| Nguyễn Thị Thu Trang | |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| ................................................................ | Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 09/2025/HNGĐ-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp tài sản chung sau ly hôn
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản chung sau ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
