|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/HNGĐ-PT
Ngày 17 tháng 6 năm 2025
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.
Các Thẩm phán: Ông Chu Tuấn Vương và bà Nguyễn Thị Minh Huệ.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2025/TLPT-HNGD ngày 06 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”.
Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 02/4/2025 của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 53/2025/QĐPT-HNGĐ ngày 29/5/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
Bị đơn: Anh Đỗ Tuấn A, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hôn nhân:
1.1. Chị Phạm Thị T trình bày chị và anh Đỗ Tuấn A tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 03/9/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Q (nay là xã C), huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, nguyên do anh Tuấn A ghen tuông, nghi ngờ chị có quan hệ bất chính, mỗi lần anh Tuấn A đi uống rượu về là chửi mắng chị và các con, có lần anh Tuấn A còn đánh chị. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên từ tháng 4 năm 2024, chị đã đưa các con về nhà bố mẹ đẻ chị ở cùng thôn sinh sống và vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn với anh Tuấn A.
1.2. Anh Đỗ Tuấn A công nhận thời gian, điều kiện kết hôn giữa anh và chị T như chị T trình bày là đúng. Sau kết hôn anh, chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm trong việc làm ăn, kinh doanh dẫn tới va chạm cãi nhau. Từ ngày 10/3/2024 đến nay anh, chị sống ly thân, mặc dù anh có tìm gọi nhiều lần nhưng chị T không về. Nay chị T xin ly hôn, anh mong muốn chị T suy nghĩ lại để đoàn tụ vợ chồng nuôi dạy con chung.
Về con chung:
Chị Phạm Thị T và anh Đỗ Tuấn A đều trình bày anh, chị có 03 con chung là Đỗ Hoài T1, sinh ngày 09/6/2012; Đỗ Anh T2, sinh ngày 01/6/2015; Đỗ Anh T3, sinh ngày 11/9/2017.
2.1. Chị T trình bày: Chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 03 con chung và không yêu cầu anh Tuấn A cấp dưỡng cho các con. Chị T hiện là giáo viên trường THPT, thu nhập bình quân là 5.000.000 đồng/tháng.
2.2. Anh Tuấn A1 trình bày: Anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 03 con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Anh Tuấn A1 làm chăn nuôi trang trại, thu nhập không cố định theo tháng mà cố định theo từng đợt, thu nhập ổn định được cuộc sống cho anh và các con. Anh có nhà ở rộng rãi đảm bảo điều kiện tốt cho các con sinh hoạt.
Bản án sơ thẩm số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 02/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Đỗ Tuấn A.
Về nuôi con chung:
Xử giao 02 con chung Đỗ Hoài T1, sinh ngày 09/6/2012 và Đỗ Anh T3, sinh ngày 11/9/2017 cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đỗ Tuấn A là người trực tiếp nuôi con Đỗ Anh T2, sinh ngày 01/6/2015. Hai bên không phải cấp dưỡng cho con chung.
Chị T và anh Tuấn A có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung mà không ai được cản trở. Chị Phạm Thị T và anh Đỗ Tuấn A có quyền yêu cầu thay đôi người trực tiêp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng cho con khi cân thiết.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về tài sản, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 15/4/2025, anh Đỗ Tuấn A kháng cáo bản án sơ thẩm về nội dung nuôi dưỡng con chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Tuấn A vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Về hôn nhân, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử cho anh và chị T được ly hôn anh không có ý kiến gì. Về con chung: Con T2 và con T3 cùng lứa tuổi, cùng cấp học, cùng sở thích nên hai con rất gắn bó với nhau. Các con đang tuổi ăn, tuổi học nên việc nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy bảo các con là rất cần thiết. Bản thân anh là lao động tự do, anh ở cùng nhà với bố mẹ anh, anh có thời gian đưa đón các con cũng như chăm lo bữa ăn, giấc ngủ cho các con, thu thập từ chăn nuôi trang trại đảm bảo cuộc sống ổn định, đầy đủ cho anh và các con. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giao 02 con chung là con T2 và con T3 cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng cho các con chung. Con T1 là gái cần sự dạy bảo từ mẹ nhiều hơn nên anh đồng ý giao con T1 cho chị T nuôi dưỡng.
Chị T vừa dạy học vừa bán hàng online, hàng ngày đi sớm về muộn, hầu như trưa không về. Chính vì thế, các con thiếu sự chăm sóc, nuôi dưỡng, đưa đón học hành từ chị T, điều đó ảnh hưởng tới sức khỏe, kết quả học tập của các con. Hiện tại, chị T và các con đang ở cùng nhà với mẹ đẻ chị T, chỗ ăn ở, sinh hoạt không được rộng rãi. Chị T lại thường xuyên đưa bạn khác giới về nhà chơi, các con đang tuổi lớn có thể ảnh hưởng đến tâm lý, nhận thức của các con. Vì thế anh không đồng ý giao cho chị T nuôi 2 con.
Tại phiên toà chị T trình bày: Chị xin ly hôn anh Đỗ Tuấn A và Tòa án cấp sơ thẩm đã xử cho chị được ly hôn anh Tuấn A. Về con chung chị vẫn có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung vì các con đều còn nhỏ rất cần sự quan tâm, chăm sóc của chị. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xử giao 02 con chung là Đỗ Hoài T1 và Đỗ Anh T3 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, xử giao con chung Đỗ Anh T2 cho anh Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng thì chị cũng đồng ý và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm quyết định về người nuôi con. Chị không đồng ý kháng cáo của anh Tuấn A về việc anh Tuấn A nhận nuôi con T2 và con T3. Theo chị T những lời anh Tuấn A trình bày tại phiên tòa là không đúng. Hàng ngày chị đi dạy học các buổi sáng, các buổi chiều thường được nghỉ nên chị bán hàng online, vì vậy chị có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Thu nhập từ lương và bán hàng online đủ để chi tiêu cho chị và các con hàng tháng. Thực tế mọi chi tiêu như đóng tiền học, tiền sinh hoạt hàng ngày của các con đều do chị lo liệu. Bản thân anh Tuấn A thường xuyên uống rượu, hay chửi mắng chị và các con, tạo ra tâm lý lo sợ cho các con, vì vậy chị không đồng ý giao 2 con là T2 và T3 cho anh Tuấn A nuôi dưỡng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Tuấn A, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 02/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 15/4/2025, anh Tuấn A nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, do vậy kháng cáo của anh Tuấn A là hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa các đương sự đều có mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 294 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo của anh Đỗ Tuấn A: Xét thấy, 03 con chung của chị T và anh Tuấn A đều đã ổn định về học tập, sinh hoạt và các hoạt động khác trong cuộc sống hàng ngày. Các con phát triển tốt về mọi mặt. Chị T là giáo viên trường trung học phổ thông, anh Tuấn A làm chăn nuôi trang trại nên thu nhập về cơ bản là ổn định; anh, chị không bị phản ánh là vi phạm đạo đức, lối sống; anh, chị đều có sức khỏe nên cả hai đều có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, con T1 là con gái đang ở độ tuổi có những thay đổi về thể chất, tâm sinh lý nên cần gần gũi với người mẹ nhiều hơn để được dạy dỗ, hướng dẫn, thấu hiểu và đồng hành cùng con; con T2 và con T3 ở lứa tuổi non nớt nhưng bước vào quá trình học tập nhiều hơn nên luôn cần bố mẹ dành nhiều thời gian ở bên con để sát sao, định hướng cho con trong quá trình học tập và sinh hoạt. Vì lẽ đó, Toà án cấp sơ thẩm quyết định giao 02 con là T1 và T3 cho chị T nuôi dưỡng, giao con T2 cho anh Tuấn A nuôi dưỡng là phù hợp pháp luật và điều kiện thực tế. Tại phiên toà phúc thẩm, anh Tuấn A không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới nào khác để chứng minh việc thay đổi quyền nuôi con của anh Tuấn A là có căn cứ. Xét điều kiện về cơ sở vật chất, cuộc sống sinh hoạt, độ tuổi, giới tính và đảm bảo ổn định việc học tập của các con chung cũng như xét đến mức thu nhập của chị T, anh Tuấn A nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Tuấn A, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Tuấn A phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các nội dung khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Đỗ Tuấn A, giữ nguyên quyết định của Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 02/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
1. Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
1.1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Đỗ Tuấn A.
1.2. Về con chung: Xử giao 02 con chung Đỗ Hoài T1, sinh ngày 09/6/2012 và Đỗ Anh T3, sinh ngày 11/9/2017 cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Đỗ Anh T2, sinh ngày 01/6/2015 cho anh Đỗ Tuấn A là người trực tiếp nuôi. Hai bên không phải cấp dưỡng cho con chung.
Chị T và anh Tuấn A có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung mà không ai được cản trở. Chị Phạm Thị T và anh Đỗ Tuấn A có quyền yêu cầu thay đôi người trực tiêp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng cho con khi cần thiết.
2. Về án phí phúc thẩm: Anh Đỗ Tuấn A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm anh Tuấn A đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000709 ngày 15/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí phúc thẩm cho anh Đỗ Tuấn A.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 17/6/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hân |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 09/2025/HNGĐ-PT ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T ly hôn anh A
