Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/DSST.

Ngày: 18/6/2025.

V/v: Tranh chấp ranh giới, mốc giới

QSD đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Quang Thái.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Viết Vĩnh – Ông Nguyễn Văn Hải.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đào Huyền My – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình: Ông Đàm Hoàng Sơn.

Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 18/6/2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số 55/2023/TLST – DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về: Tranh chấp ranh giới, mốc giới và quyền sử dụng đất, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-DS ngày 04/6/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đào Thị N, sinh năm 1962 (Có mặt).

Trú tại: Xóm Đ, xã L, P, tỉnh Thái Nguyên.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Lao Thị Hồng H, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Số nhà A đường B, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).

(Theo giấy ủy quyền ngày 06 tháng 6 năm 2023 đã được UBND xã L).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp cho bà N:

Ông Nguyễn Văn T – Luật sư thuộc Công ty L – Đoàn luật sư thành phố H (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Đào Duy C (Đào Xuân C1), sinh năm 1940; Bà Trần Thị N1, sinh năm 1947; Trú tại: Xóm Đ, xã L, P, Thái Nguyên (Vắng mặt).

Ông C1, bà N1 ủy quyền cho anh: Đào Duy T1, sinh năm 1981. Trú tại: Xóm Đ, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt)

(Theo giấy ủy quyền ngày 05 tháng 02 năm 2024 đã được UBND xã L).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Hải C2, sinh năm 1981.
  2. Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

  3. Chị Trần Thị Thu H1, sinh năm 1983.
  4. Trú tại: TDP T, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng.

  5. Chị Trần Thị Thanh H2, sinh năm 1984.
  6. Trú tại: TDP N, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam.

  7. Bà Bùi Thị P, sinh năm 1937.
  8. Trú tại: Xóm P, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

    (Anh C2, chị H1, chị H2, bà P ủy quyền cho bà Lao Thị Hồng H theo giấy ủy quyền ngày 31 tháng 8 năm 2023 đã được UBND xã L).

  9. Ông Bùi Thế T2, sinh năm 1976 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  10. Trú tại: Xóm Đ, xã L, huyện P, Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai của bà Đào Thị N: Gia đình bà có quyền sử dụng hợp pháp đối với các thửa đất số 501, 505, 506 và một số thửa đất khác cùng thuộc tờ bản đồ số 11, địa chỉ tại xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số T 737638, vào số cấp GCNQSDĐ số 00359QSDD/306/2001/QĐ-UB/H do UBND huyện P cấp ngày 26/6/2001, mang tên hộ ông Trần Hải Đ chồng bà. Tại đơn đề nghị ngày 13/3/2023, Công an xã L đã xác nhận tại thời điểm cấp GCNQSD đất nêu trên, thành viên trong hộ ông Trần Hải Đ gồm 05 người là: Ông Trần Hải Đ, bà Đào Thị N, anh Trần Hải C2, chị Trần Thị Thu H1, chị Trần Thị Thanh H2 là các con của bà với ông Đ. Ngày 19/6/2020 ông Đ chết không để lại di chúc. Căn cứ khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, chỉ có bà, bà Bùi Thị P (mẹ đẻ ông Đ), anh C2, chị H1, chị H2 là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng di sản của ông Đ. Vì một số lý do nên gia đình bà chưa thể tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế của ông Đ. Sau khi chồng bà chết, khoảng tháng 10/2020, gia đình bà có ý định xây dựng tường rào tại vị trí giáp ranh giữa thửa đất số 505, 506 của gia đình bà với thửa đất số 500, tờ bản đồ số 11 của gia đình ông C1 theo đúng ranh giới, mốc giới mà hai gia đình đã sử dụng từ trước đến nay và được Nhà nước công nhận bằng việc cấp GCNQSD đất. Tuy nhiên, gia đình ông C1 nhiều lần gây khó khăn, cố tình tạo ra tranh chấp đất đai. Mặc dù gia đình bà đã nhượng bộ, thiện chí mời địa chính xã về đo đạc, xác định ranh giới đất cho hai gia đình. Nhưng gia đình ông C1 vẫn không phối hợp, khiến cho tranh chấp giữa hai bên kéo dài và ngày càng căng thẳng. Ngày 14/6/2022, UBND xã L tổ chức buổi hòa giải tranh chấp đất đai nêu trên giữa gia đình bà và gia đình ông C1. Kết quả hòa giải không thành, do hai bên không thể thống nhất được việc xác định ranh giới. Trong khi tranh chấp chưa được giải quyết, ngày 28/4/2023, gia đình ông C1 còn tự ý cắm cọc tre sang phần đất của gia đình bà để làm hàng rào mà không được sự đồng ý của gia đình bà lấn, chiếm khoảng 60m² thuộc thửa đất số 505, 506 của gia đình bà. Phần đất lấn, chiếm chạy dọc theo ranh giới giữa thửa đất 505, 506 của gia đình bà với thửa đất số 500 của gia đình ông C1, có chiều dài khoảng 30 mét và chiều rộng khoảng 02 mét.

Ngày 21/7/2023, gia đình ông C1 tiếp tục có hành vi lấn chiếm khoảng 16,8m² đất thuộc thửa đất số 501 của gia đình bà, chiều phía T dài 11,2 mét, phía Đông Bắc dài 1,4 mét, phía Đông Nam dài 11,2 mét, phía Tây Nam dài 1,6 mét để đào móng, xây dựng công trình nhà ở mà không được gia đình bà cho phép. Thửa đất này có vị trí tiếp giáp với thửa đất số 499, tờ bản đồ số 11 của gia đình ông C1. Sau khi phát hiện sự việc nêu trên, bà đã có đơn đề nghị hòa giải tranh chấp đất đai và đơn đề nghị ngăn chặn gia đình ông C1 làm thay đổi hiện trạng phần diện tích đất tranh chấp gửi UBND xã L. Ngày 03/8/2023, UBND xã L đã về kiểm tra, xác minh thực địa; tiếp đó, ngày 04/8/2023, UBND xã L ra thông báo số 25/TB-UBND về việc không được làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất, xây dựng công trình, trồng cây lâu năm trên phần diện tích đất đang tranh chấp giữa hai gia đình. Mặc dù bà, lãnh đạo xóm cũng như UBND xã L đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu gia đình ông C1 dừng ngay việc xây dựng công trình nhà ở trên phần đất tranh chấp nhưng gia đình ông C1 vẫn cố tình thực hiện.

Ngày 16/8/2023, UBND xã L tổ chức buổi hòa giải tranh chấp đất đai nêu trên giữa gia đình bà và gia đình ông C1. Kết quả hòa giải không thành, do hai bên không thể thống nhất được việc xác định ranh giới.

Nay bà đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình giải quyết các yêu cầu sau:

Buộc gia đình ông C1 phải tháo dỡ các công trình xây dựng nhà ở, di dời cọc tre, di dời cây cối, xén rễ, cắt, tỉa cành vượt quá ranh giới, lấn chiếm không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng của ranh giới đất để trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn, chiếm cho gia đình bà quản lý, sử dụng theo đúng quy định, bao gồm: khoảng 60m² thuộc thửa đất số 505, 506 và khoảng 16,8m² thuộc thửa đất số 501 tờ bản đồ số 11, địa chỉ tại xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Đào Duy C, bà Trần Thị N1 khai: Gia đình ông bà ở tại xóm Đ từ năm 1962, gia đình ông bà có khoảng 3.000m² đất, gia đình ông bà đã làm nhà, trồng cây, làm hàng rào ngăn cách với gia đình ông Đ, bà N. Năm 1992, gia đình ông Đ, bà N mua đất gần nhà ông để làm nhà ở, công trình phụ có lấn sang đất của nhà ông bà, ông đã làm đơn đề nghị lãnh đạo xóm, UBND xã L nhưng không thành. Gia đình ông Đ, bà N có bán cho anh Bùi Thế T2 một ít đất giáp với đất thổ cư của gia đình ông bà, gia đình anh T2 đã xây tường làm ranh giới giữa đất của gia đình anh mua của ông Đ, bà N với đất thổ cư của gia đình ông bà. Tháng 8/2023 ông bà có làm nhà cho con trai là anh Đào Duy T1 giáp với thửa đất của anh T2 mua của ông Đ, bà N. Gia đình ông bà đang xây dựng thì bà N báo với UBND xã L xuống tạm đình chỉ không cho xây vì bà N nói gia đình ông bà xây lấn vào thửa đất số 501 của gia đình bà N. Nên gia đình ông đã phải dừng lại không xây nữa, chờ Tòa án giải quyết tranh chấp đất xong mới tiếp tục được xây. Nay bà N cho rằng gia đình ông bà lấn vào thửa đất số 505, 506 và 501 thì ông xác định không lấn vào đất của gia đình bà N.

3. Ý kiến của anh Đào Duy T1 – là người được ông C, bà N1 ủy quyền: Anh xác định gia đình anh không lấn 60m² tại thửa đất số 505, 506 có chiều dài khoảng 30m và chiều rộng khoảng 02m; Không lấn 16,8m² tại thửa đất số 501 chiều phía T dài 11,2m, phía Đông Bắc dài 1,4m, phía Đông Nam dài 11,2m, phía Tây Nam dài 1,6m như lời bà N đã khai. Còn nếu cây Tre, cây Gáo của gia đình bố mẹ anh có cành chờm sang thửa đất 505, 506 thì gia đình anh sẽ tổ chức chặt, không cho chòm sang các thửa đất trên của gia đình bà N. Còn phần nhà gia đình của anh xây dựng năm 2023 mà bà N cho rằng gia đình anh xây lấn vào thửa đất số 501 của gia đình bà là không đúng, vì thửa đất số 501 là đất của anh Bùi Thế T2 đã mua của gia đình bà N từ tháng 8/2008. Nếu gia đình anh có xây lấn vào phần thửa đất này thì gia đình anh sẽ có thỏa thuận với gia đình anh T2.

4. Ông Bùi Thế T2 khai: Ông với gia đình ông Trần Hải Đ và bà Đào Thị N có mối quan hệ quen biết. Năm 2008, vợ chồng ông Đ có nhu cầu bán đất ruộng gần nhà của ông bà, ông bà có giao bán khắp xóm nhưng không có ai mua vì giá cao, do lúc đó ông cũng có nhu cầu mua đất ruộng nên có đặt vấn đề mua đất ruộng của gia đình ông Đ. Sau khi thỏa thuận về giá bán thì gia đình ông Đ nhất trí bán cho ông một phần của thửa đất ruộng giáp với nhà đất của gia đình ông bà với giá 29.000.000₫ (Hai mươi chín triệu đồng), cụ thể thửa đất có tứ cận như sau:

  • Phía Đông Bắc giáp đường đi của xóm: 12 mét.
  • Phía Tây giáp đất ông C, bà N1: 10 mét.
  • Phía Tây Bắc giáp đất ông Đ, bà N: 27 mét.
  • Phía Nam giáp đất ông C, bà N1: 27 mét.

Việc mua bán thửa đất này có ông Phạm Như V là hàng xóm và ông Lê Bá C3 là trưởng xóm thời kỳ đó chứng kiến, trong giấy chuyển nhượng đất đã ghi ông Đ, bà N đến tháng 10/2008 phải giao GCNQSD đất gốc cho ông để ông đi làm thủ tục sang tên thửa đất này. Sau khi làm giấy chuyển nhượng xong, ông đã giao đầy đủ tiền cho ông Đ, bà N. Do lúc đó gia đình ông Đ, bà N đang thế chấp GCNQSD đất tại Ngân hàng nên trong giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với gia đình ông Đ, bà N chưa viết số thửa là bao nhiêu. Sau này ông ra UBND xã L kiểm tra trên bản đồ địa chính thì xác định thửa đất ông mua là một phần của thửa đất số 501, tờ bản đồ số 11, diện tích 294m² đã được cấp GCNQSD đất tên hộ ông bà Trần Hải Đ. Sau khi nhận đất, ông đã tiến hành xây một bờ tường gạch xi măng ngăn thửa đất đã mua của gia đình ông Đ với phần đất của gia đình ông C, bà N1. Thửa đất này sau khi mua đã được ông canh tác tháng 8/2008 đến nay không có tranh chấp với ai. Ông đã nhiều lần sang nhà ông Đ, bà N yêu cầu ông bà đưa GCNQSD đất cho ông để làm thủ tục sang tên đổi chủ thửa đất số 501, nhưng gia đình ông đưa ra nhiều lý do khác nhau không đưa GCNQSD đất gốc cho ông. Vừa qua ông yêu cầu bà N đưa GCNQSD đất cho ông làm thủ tục sang tên thửa đất 501 đã mua của gia đình bà thì được biết gia đình bà đang có tranh chấp đất với gia đình ông C, bà N1. Bà N cho rằng gia đình ông C xây nhà lấn vào thửa đất số 501 của gia đình nhà bà. Tuy nhiên thửa đất 501 là của ông mua của ông Đ, bà N từ năm 2008, khi gia đình ông C xây nhà thì không xin ý kiến của ông nên ông cũng không biết gia đình ông C có lấn vào phần đất mà ông đã mua của gia đình ông Đ, bà N hay không. Nay ông xác định một phần của thửa đất số 501 là của ông mua của ông Đ, bà N từ năm 2008. Nên đề nghị Tòa án huyện Phú Bình giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/3/2024, Tòa án tiến hành thẩm định, đo đất đối với các thửa đất số 505, 506 và 501. Tại buổi thẩm định xác định tài sản trên các thửa đất đang có tranh chấp gồm:

  • Trên phần diện tích đất đang tranh chấp tại thửa 505, 506 có 02 cây Gáo, trong đó có 01 cây đã chết; 01 búi tre khoảng 100 cây đã chết; 08 cây chuối.
  • Trên phần diện tích đất đang tranh chấp tại thửa 499 và 501 có 01 bức tường xây gạch chỉ 110mm; móng 220mm; dài 11,15 mét; cao 3 mét (Đang xây dở); 01 bể Bioga.
  • Trên phần diện tích đất đang tranh chấp giữa thửa 505, 506 với thửa đất số 500 có 01 phần nhà và công trình phụ.

Sau khi kiểm tra bản sơ đồ đo vẽ do Công ty cổ phần T3 và xây dựng số 6. Ngày 25/7/2024, bà Lao Thị Hồng H là người được bà N ủy quyền có đơn đề nghị đo đạc lại các thửa đất đang có tranh chấp.

Tòa án nhân dân huyện Phú Bình đã tiến hành mời Công ty cổ phần Đ2 tiến hành đo vẽ lại đối với các thửa đất đang có tranh chấp. Tháng 8/2024, Công ty cổ phần Đ2 cung cấp sơ đồ hiện trạng đối với các thửa đất 505, 506, 501 cho Tòa án và các bên đương sự.

Tại biên bản hòa giải thành ngày 14/02/2025, các bên đương sự đã thỏa thuận, cụ thể như sau:

  1. Giao cho gia đình bà Đào Thị N được quyền quản lý, sử dụng 36,29 m² tại thửa đất số 500, tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Cụ thể như sau: Từ điểm A, B, C trên bản vẽ hiện trạng của Công ty cổ phần T3 và xây dựng số 6, đo vẽ tháng 3 năm 2024 kéo sang phần thửa đất số 500 là 1 mét chiều ngang, chiều dài 36,29 mét. Bà Đào Thị N có trách nhiệm làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 36,29 m² nêu trên tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Có sơ đồ kèm theo).
  2. Giao cho gia đình ông Đào Xuân C1 (Đào Duy C) và bà Trần Thị N1 được quyền quản lý, sử dụng 32,5 m² đất tại một phần của thửa đất số 501, tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính xã L, huyện P, tại các điểm 1, H, G, F, E, D, C, 6, 5, 4, 3, 2, 1 theo bản vẽ hiện trạng của Công ty cổ phần T3 và xây dựng số 6, đo vẽ tháng 3 năm 2024. Ông Đào Xuân C1 (Đào Duy C) và bà Trần Thị N1 có trách nhiệm làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 32,5 m² nêu trên tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Có sơ đồ kèm theo).
  3. Gia đình ông Đào Xuân C1 (Đào Duy C), bà Trần Thị N1 có trách nhiệm chặt, phá bỏ toàn bộ bụi tre nằm trong phần diện tích đất thuộc các điểm 4, 5, 6, C, D tại bản vẽ hiện trạng của Công ty cổ phần T3 và xây dựng số 6, đo vẽ tháng 3 năm 2024 (Có sơ đồ kèm theo).
  4. Gia đình ông Đào Xuân C1, bà Trần Thị N1 có trách nhiệm xây dựng 01 bờ rào bằng gạch xi măng để làm ranh giới giữa thửa đất số 500 của gia đình ông bà với thửa đất số 505, 506, tờ bản đồ số 11 của gia đình bà N sau khi Tòa án cùng với chình quyền địa phương về xác định ranh giới, mốc giới các thửa đất.
  5. Gia đình ông Đào Xuân C1, bà Trần Thị N1 có trách nhiệm trả cho gia đình bà Đào Thị N số tiền chi phí tố tụng là 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng).
  6. Về nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, bà Đào Thị N có đơn yêu cầu thi hành, nếu ông Đào Xuân C1 (Đào Duy C) và bà Trần Thị N1 không tự nguyện thi hành được khoản tiền chi phí tố tụng nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi được xác định theo khoản 2 Điều 468 BLDS tương đương với số tiền mà ông C, bà N1 chậm thi hành án.
  7. Án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đào Xuân C1 (Đào Duy C) và bà Trần Thị N1 do ông C, bà N1 thuộc diện người cao tuổi được miễn án phí theo quy định pháp luật. Hoàn trả bà N số tiện tạm ứng án phí DSST đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Trong vụ án này bà Đào Thị N là nguyên đơn; Ông Đào Duy C (Đào Xuân C1), bà Trần Thị N1 là bị đơn; ông C1, bà N1 ủy quyền cho anh Đào Duy T1 có chứng thực của UBND xã L, huyện P; anh Trần Hải C2, chị Trần Thị Thu H1, chị Trần Thị Thanh H2, bà Bùi Thị P, ông Bùi Thế T2 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bà N, Anh C4, chị H1, chị H2, bà P ủy quyền cho bà Lao Thị Hồng H theo giấy ủy quyền ngày 06/6/2023 và giấy ủy quyền ngày 31/8/2023 đã được UBND xã L nên được chấp nhận.

[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Đào Thị N có đơn khởi kiện Ông Đào Duy C (Đào Xuân C1), bà Trần Thị N1 vụ án “Tranh chấp ranh giới, mốc giới và quyền sử dụng đất” được quy định tại Luật đất đai và Bộ Luật dân sự năm 2015.

[3]. Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn, bị đơn đều trú tại huyện P, nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Phú Bình được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4]. Về tài liệu chứng cứ do bà N nộp gồm có: 01 Bản sao có chứng thực CCCD của Đào Thị N; 01 Bản photo căn cước công dân của Trần Hải C2, Trần Thị Thu H1, Trần Thị Thanh H2 và Bùi Thị P; 01 Bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 737638 mang tên hộ ông Trần Hải Đ; 01 Bản sao có chứng thực biên bản hòa giải tranh chấp đất đai ngày 14/6/2022 của UBND xã L; 01 Trích lục Bản đồ địa chính năm 1993; 01 Bản sao có chứng thực Đơn đề nghị xác nhận nhân khẩu ngày 13/3/2023 của bà Đào Thị N (có xác nhận của trưởng xóm Đ, xác nhận của Công an xã L); 01 Bản gốc hợp đồng ủy quyền ngày 06/6/2023, số chứng thực 76, quyển số 01/2023 TP-SCT/CK, DC; 01 Bản sao trích lục khai tử của ông Trần Hải Đ; 01 Bản sao có chứng thực đơn xin xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần Hải Đ ngày 20/6/2023 (có xác nhận của UBND xã L); 01 Bản sao có chứng thực Văn bản số 113/CV-CNPB v/v cung cấp thông tin ngày 07/6/2023 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện P; 01 Bản phô tô đóng dấu treo của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện P trang sổ địa chính 20, quyển xóm P, xã L có thửa đất 505, 506 tờ bản đồ số 11; 01 Bản phô tô đóng dấu treo biên bản kiểm tra xác minh thực địa ngày 30/5/2022 của UBND xã L; 01 biên bản hòa giải tranh chấp đất đai ngày 16/8/2023 của UBND xã L (bản sao có chứng thực); 01 biên bản kiểm tra, xác minh thực địa (bản photo đóng dấu treo của UBND xã L); 01 Thông báo số 25/TB-UBND ngày 04/8/2023 của UBND xã L về việc không được làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất, xây dựng công trình trồng cây lâu năm trên phần diện tích đất đang tranh chấp (bản sao có chứng thực).

- Tài liệu chứng cứ do Đào Duy T1 nộp bao gồm: 01 Hợp đồng ủy quyền ngày 05/02/2024 của ông Đào Duy C, bà Trần Thị N1 cho anh Đào Duy T1.

- Tài liệu chứng cứ do ông Bùi Thế T2 nộp gồm: 01 biên bản chuyển nhượng quyền sử dụng 01 phẩn thửa đất số 501, tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính xã L ngày 12/8/2008, giữa ông Trần Văn Đ1 với ông Bùi Thế T2.

[5]. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị N kiện vợ chồng ông Đào Duy C (Đào Xuân C1), bà Trần Thị N1 hội đồng xét xử thấy: Gia đình bà Đào Thị N có 03 thửa đất số 505, 506, 501 tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính xã L, huyện P, vị trí nằm sát với thửa đất số 500, 499 của gia đình ông C1, bà N1 quá trình sinh sống hai gia đình phát sinh mâu thuẫn vì gia đình bà N cho rằng gia đình ông C1 có lấn chiếm đất của gia đình bà. Vụ việc đã được UBND xã L, huyện P hòa giải nhưng không thành. Tòa án đã tiến hành hòa giải, giai đoạn đầu giải quyết thì gia đình ông C1, bà N1 cho rằng gia đình ông không lấn chiếm đất của gia đình bà N. Tuy nhiên tại biên bản hòa giải thành ngày 14/02/2025, gia đình ông C1, bà N đã xác định có lấn chiếm vào thửa đất số 505, 506, 501 của gia đình bà N và có xây nhà lấn vào thửa đất số 501 của gia đình bà N, hai gia đình đã thỏa thuận đổi đất cho nhau. Tuy nhiên đến ngày 20 tháng 02 năm 2025, bà N đã có văn bản thay đổi ý kiến về việc hòa giải thành ngày 14/02/2025, bà đề nghị Tòa án đo đạc lại phần nhà xây của gia đình ông C1, bà N1 xây lấn vào thửa đất số 501, và yêu cầu Tòa án giải quyết thao quy định của pháp luật.

Tại sơ đồ đo vẽ tháng 4/2025, Công ty cổ phần Đ2 cung cấp sơ đồ hiện trạng đối với các thửa đất 505, 506, 501 cho Tòa án và các bên đương sự, thấy rằng: Gia đình ông C1, bà N1 có lấn chiếm vào các thửa đất của gia đình bà N cụ thể như sau:

  • - Phần lấn sang thửa đất số 506 = 8,6m², theo sơ đồ là các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 11, 1.
  • - Phần lấn sang thửa đất số 505 = 1,1m², theo sơ đồ là các điểm 5,6,7,11,5.
  • - Phần lấn sang thửa đất số 505 khu 2 = 3,5m², theo sơ đồ là các điểm 7, 8, 9, 10, 7.
  • - Diện tích phần đất của thửa 499 lấn vào thửa đất 501= 23,3m² theo sơ đồ là các điểm 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 22.
  • + Phần nhà ông C1 xây vào phần thửa đất 501 = 16,4m² theo sơ đồ là các điểm 25, 26, 27, 28, 25.
  • + Phần bể B (Bể phốt) nhà ông C1 xây vào phần thửa đất 501 = 2,4m² theo sơ đồ là các điểm 14, 26, 27, 35, 14. (Yêu cầu gia đình ông C1 phải tháo dỡ toàn bộ bể B - Bể phốt để trả lại phần đất này cho gia đình bà N).
  • + Phần đất trống nằm vào thửa 501 = 4,5m², theo sơ đồ là các điểm 22, 23, 24, 25, 28, 22.
  • - Diện tích thửa đất 500 lấn vào thửa đất 501 = 8,9m² theo sơ đồ là các điểm 36, c, 27, 35, 10, 9, 36 (Phần diện tích đất này gia đình ông C1 có trồng 100 cây tre đã chết, yêu cầu gia đình ông C1 chặt bỏ toàn bộ cây tre để trả lại phần đất này cho gia đình bà N).

Hội đồng xét xử thấy rằng việc gia đình ông C1, bà N1 lấn chiếm đất của gia đình bà N là có thật nên cần phải buộc gia đình ông C1, bà N1 phải trả lại toàn bộ phần đất đã lấn chiếm cho gia đình bà N; Buộc gia đình ông C1, bà N1 phải tháo dỡ toàn bộ phần bờ tường, móng nhà đang xây dở và toàn bộ bể Bioga (Bể phốt); Chặt toàn bộ 100 cây tre đã chết để trả lại những phần diện tích đất đã lấn chiếm.

[6]. Về chi phí tố tụng:

6.1. Ngày 14/02/2025, các bên đương sự đã thỏa thuận được toàn bộ về phần tranh chấp và chi phí tố tụng nên cần phải buộc ông C1, bà N1 phải hoàn trả cho gia đình bà N số tiền 16.000.000đ chi phí cho việc thẩm định, đo đất lần thứ nhất và lần thứ hai.

6.2. Đối với phần chi phí tố tụng lần thứ hai gồm: Chi phí cho việc đo đất lần thứ ba, chi phí cho việc định giá tài sản, đây là yêu cầu bổ sung của bà N. Nên bà N phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng cho việc đo đất lần thứ ba, định giá tài sản là 9.300.000đ (Chín triệu ba trăm ngàn đồng).

[7]. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí DSST cho ông C1, bà N1 vì ông bà thuộc diện người cao tuổi. Hoàn trả bà N số tiền tạm ứng án phí DSST.

[8]. Đối với quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên – Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình.

[9]. Việc mua bán đất giữa ông Bùi Thế T2 với gia đình bà N đối với một phần của thửa đất số 501 sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có tranh chấp tại Tòa án. Nếu ông T2 có đơn tại Tòa án.

[10]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 163, 175, 176, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 26, 236 Luật đất đai năm 2024; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị N về việc tranh chấp ranh giới, mốc giới và quyền sử dụng đất đối với ông Đào Duy C (Đào Xuân C1), bà Trần Thị N1. Buộc Đào Duy C (Đào Xuân C1), bà Trần Thị N1.
    1. Xác định ranh giới, mốc giới đất giữa gia đình bà Đào Thị N với gia đình ông C1, bà N1 giữa thửa đất số 506, 505 (Đất của bà N) với thửa đất số 500 (Đất của gia đình ông C1, bà N1), tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính xã L, huyện P là các điểm 1, 3, 11, 6, 7, 10 (Có sơ đồ kèm theo).
    2. Xác định ranh giới, mốc giới đất giữa gia đình bà Đào Thị N với gia đình ông C1, bà N1 giữa thửa đất số 501 (đất bà N) với thửa đất số 500, 499 (Đất của gia đình ông C1, bà N1), tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính xã L, huyện P là các điểm 9, 10, 35, 14, 26, 25, 24, 23, 33 (Có sơ đồ kèm theo).
    3. Buộc gia đình ông C1, bà N1 trả cho gia đình bà N 8,6m² lấn vào thửa đất số 506, theo sơ đồ là các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 11, 1 (Có sơ đồ kèm theo).
    4. Buộc gia đình ông C1, bà N1 trả cho gia đình bà N 1,1m² lấn vào thửa đất số 505, theo sơ đồ là các điểm 5,6,7,11,5 (Có sơ đồ kèm theo).
    5. Buộc gia đình ông C1, bà N1 trả cho gia đình bà N 3,5m² lấn vào thửa đất số 505 khu 2, theo sơ đồ là các điểm 7, 8, 9, 10, 7 (Có sơ đồ kèm theo).
    6. Buộc gia đình ông C1, bà N1 phải dỡ toàn bộ bờ tường, móng nhà đang xây dở lấn vào thửa đất số 501 là các điểm 25, 26, 27, 28, 25 để trả lại cho gia đình bà N là 16,4m² (Có sơ đồ kèm theo).
    7. Buộc gia đình ông C1, bà N1 phải dỡ phần bể Bioga (Bể phốt) xây lấn vào thửa đất số 501 là các điểm 14, 26, 27, 35, 14 (Có sơ đồ kèm theo).
    8. Buộc gia đình ông C1, bà N1 trả lại cho gia đình bà N 4,5m² đất lấn vào thửa đất số 501 là các điểm 22, 23, 24, 25, 26, 22 (Có sơ đồ kèm theo).
    9. Buộc gia đình ông C1, bà N1 trả lại cho gia đình bà N 8,9m² đất lấn vào thửa đất số 501 là các điểm 36, C, 27, 35, 10, 9, 36 và chặt toàn bộ 100 cây tre đã chết để trả lại đất cho bà N (Có sơ đồ kèm theo).
  2. Về chi phí tố tụng:
    1. Buộc ông C1, bà N phải hoàn trả cho gia đình bà N số tiền 16.000.000đ chi phí cho việc thẩm định, đo đất lần thứ nhất và lần thứ hai.
    2. Bà N phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng cho việc đo đất lần thứ ba, định giá tài sản là 9.300.000đ (Chín triệu ba trăm ngàn đồng), đã quyết toán xong.
    3. Về nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà Đào Thị N có đơn yêu cầu thi hành về số tiền chi phí tố tụng mà ông C1, bà N1 phải trả. Nếu ông C1, bà N1 không tự nguyện thi hành được khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi được xác định theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
  3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí DSST cho ông C1, bà N1 vì ông bà thuộc diện người cao tuổi.
  4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bà N, anh T1, bà Lao Thị Hồng H, anh Trần Hải C2; vắng mặt đối với ông Bùi Thế T2. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án đối với những người có mặt; Ông T2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú cuối cùng của ông T2.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh TN;
  • - VKSND tỉnh TN;
  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - THADS huyện Phú Bình;
  • - UBND xã Lương Phú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Quang Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/DSST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ranh giới, mốc giới qsd đất

  • Số bản án: 09/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới, mốc giới QSD đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Bà Đào Thị Nhận, sinh năm 1962; - Bị đơn: Ông Đào Duy Chức (Đào Xuân Chức), sinh năm 1940; Bà Trần Thị Nụ, sinh năm 1947; Trú tại: Xóm Đồng Hương, xã Lương Phú, Phú Bình, Thái Nguyên; Thụ lý số: 55/2023/TLST – DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc Tranh chấp ranh giới, mốc giới và quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger