|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 09/2025/DS-ST Ngày 30 tháng 5 năm 2025 V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cường Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Khắc Dũng, bà Nguyễn Thị Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện EaKar xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 30/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện EaKar, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V. Địa chỉ: 89 L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn: Ông Ngân Xuân T – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ. Địa chỉ: 35-37 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 2000. Địa chỉ: Thôn C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 31/10/2024, các lời khai và tại phiên toà người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Ngân Xuân T trình bày:
Ngày 04/7/2022, bà Nguyễn Thị Quỳnh N có vay của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V (sau đây viết tắt là ngân hàng) số tiền 513.000.000 đồng với thời hạn vay 83 tháng, mỗi tháng trả gốc 6.107.000 đồng và tiền lãi ngân hàng sẽ thông báo từng kỳ tùy theo sự thay đổi lãi suất của từng kỳ; Lãi suất trong hạn 9,5%/năm, cố định trong 12 tháng đầu tiên, sau đó lãi suất thay đổi định kỳ 3 tháng/lần. Trường hợp, khách hàng vi phạm bất kỳ kỳ trả nợ nào trong suốt các kỳ trả nợ vay thì chuyển toàn bộ nợ gốc sang nợ quá hạn và tính lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn theo hợp đồng tín dụng số LN2206065924198 ngày 04/7/2022 và ngân hàng có quyền khởi kiện để thu hồi toàn bộ số nợ trước hạn theo quy định tại mục 8 Điều 1 của hợp đồng tín dụng: Bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi...(bao gồm cả nghĩa vụ trả nợ theo bất kỳ Kỳ trả nợ gốc, Kỳ trả nợ lãi nào)...”.
Để đảm bảo cho khoản vay, bà N có thế chấp cho Ngân hàng 01 xe ô tô bán tải nhãn hiệu For loại Ranger XLS MT, số khung RL2LMFF80NUR23051, số máy P4AT4005816, biển kiểm soát 47C-278.49, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô: 47000196 do Công an huyện Ea Kar cấp ngày 05/7/2022 cho bà Nguyễn Thị Quỳnh N theo hợp đồng thế chấp số LN2206065924198 ngày 04/7/2022.
Trong thời gian vay, từ ngày 15/8/2022 đến ngày 15/7/2023 bà N đã trả được cho ngân hàng số tiền gốc 73.284.025 đồng và lãi 48.018.982 đồng. Đồng thời bà N đã vi phạm trả nợ các kỳ tháng 10/2022, kỳ tháng 12/2022, kỳ tháng 3/2023... là vi phạm quy định tại mục 8 Điều 1 của hợp đồng tín dụng nên ngân hàng đã chuyển số tiền nợ gốc là 439.715.975 đồng sang nợ quá hạn từ ngày 15/8/2023 và khởi kiện trước hạn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Quỳnh N phải trả cho ngân hàng số nợ là 592.416.111 đồng, trong đó nợ gốc là 439.715.975 đồng và nợ lãi quá hạn tạm tính từ ngày 15/8/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/5/2025 là 152.700.136 đồng (Có bằng kê tính lãi kèm theo) và lãi phát sinh từ ngày 31/5/2025 cho đến khi trả hết nợ.
Trường hợp bà N không trả được nợ hoặc không trả hết nợ thì đề nghị Toà án giải quyết cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vđược yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện EaKar đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bà N đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại Toà án để làm việc nên không tiến hành hoà giải được. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện EaKar quyết định đưa vụ án ra xét xử.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên Tòa. Vì vậy, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt là đúng quy định của pháp luật.
- Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) tại phiên tòa đảm bảo quy định về trình tự thủ tục tố tụng dân sự.
2
- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V là có căn cứ, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà N phải trả cho ngân hàng số nợ là 592.416.111 đồng, trong đó nợ gốc là 439.715.975 đồng và nợ lãi quá hạn tạm tính từ đến ngày 15/8/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm, ngày 30/5/2025 là 152.700.136 đồng. Trường hợp bà N không trả được nợ hoặc không trả hết nợ thì đề nghị Toà án giải quyết cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V khởi kiện yêu cầu bà N phải trả cho ngân hàng số nợ là 592.416.111 đồng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS) đây là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Do các bên đương sự có văn bản thoả thuận giải quyết tranh chấp tại Toà án nhân dân huyện EaKar, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 39 BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật nhưng bà N không đến Tòa án làm việc. Tại phiên tòa hôm nay bà N vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà N.
[2] Về nội dung: Ngày 04/7/2022, bà Nguyễn Thị Quỳnh N có vay của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V (sau đây viết tắt là ngân hàng) số tiền 513.000.000 đồng với thời hạn vay 83 tháng, mỗi tháng trả gốc 6.107.000 đồng và tiền lãi ngân hàng sẽ thông báo từng kỳ tùy theo sự thay đổi lãi suất của từng kỳ; Lãi suất trong hạn 9,5%/năm, cố định trong 12 tháng đầu tiên, sau đó lãi suất thay đổi định kỳ 3 tháng/lần. Các bên giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Do bà N đã vi phạm trả nợ gốc và lãi các kỳ tháng 10/2022, kỳ tháng 12/2022, kỳ tháng 3/2023... cho ngân hàng, là không thực hiện đúng với nội dung hợp đồng đã cam kết, là vi phạm mục 8 Điều 1 hợp đồng tín dụng.
Tại mục 8 Điều 1 hợp đồng tín dụng quy định:
“ Chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn: Ngân hàng có quyền chấm dứt cho vay, dừng giải ngân, thu hồi toàn bộ dư nợ vay còn lại của bên vay trước thời hạn trong những trường hợp sau:
a) Bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi...(bao gồm cả nghĩa vụ trả nợ theo bất kỳ Kỳ trả nợ gốc, Kỳ trả nợ lãi nào)...”.
3
Việc bà N đã vi phạm trả nợ gốc và lãi đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng nên ngân hàng khởi kiện trước hạn là có căn cứ. Từ những chứng cứ mà các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Xét thấy yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ nên HĐXX cần buộc bà Nguyễn Thị Quỳnh N phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V số nợ là là 592.416.111 đồng, trong đó nợ gốc là 439.715.975 đồng và nợ lãi quá hạn tạm tính từ đến ngày 15/8/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/5/2025 là 152.700.136 đồng.
Đối với tài sản là 01 xe ô tô bán tải nhãn hiệu For loại Ranger XLS MT, số khung RL2LMFF80NUR23051, số máy P4AT4005816, biển kiểm soát 47C-278.49, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô: 47000196 do Công an huyện Ea Kar cấp ngày 05/7/2022 cho bà Nguyễn Thị Quỳnh N. Tài sản này đã được thế chấp nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của bà N. Do vậy, trong trường hợp bà N không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp theo hợp đồng thế chấp số LN2206065924198 ngày 04/7/2022 theo quy định của luật thi hành án để thu hồi nợ.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà N phải chịu tiền án phí Dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả cho nguyên đơn ((theo mức 20.000.000 đồng +(192.416.111 đồng x 4%)).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157; Điều 165; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 463, khoản 1, điểm a, b khoản 5 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự. Điều 6, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc bà Nguyễn Thị Quỳnh N phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V số tiền nợ là 592.416.111 đồng, trong đó nợ gốc là 439.715.975 đồng và tiền lãi là 152.700.136 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận hợp đồng tín dụng số số LN2206065924198 ngày 04/7/2022 của ngân hàng.
4
- Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp bà N không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là 01 xe ô tô bán tải nhãn hiệu For loại Ranger XLS MT, số khung RL2LMFF80NUR23051, số máy P4AT4005816, biển kiểm soát 47C-278.49, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô: 47000196 do Công an huyện Ea Kar cấp ngày 05/7/2022 cho bà Nguyễn Thị Quỳnh N theo hợp đồng thế chấp số LN2206065924198 ngày 04/7/2022 theo quy định của luật thi hành án để thu hồi nợ.
- Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Quỳnh Như giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô: 47000196 do Công an huyện Ea Kar cấp ngày 05/7/2022 cho bà Nguyễn Thị Quỳnh N khi bà N trả nợ xong.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Quỳnh N phải chịu 27.696.644 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Trả lại cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V 12.714.038 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2023/0000946 ngày 21/01/2025 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện EaKar.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án Dân sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án Dân sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7,7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Nguyễn Cường Anh |
5
Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 09/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V khởi kiện bà Nguyễn Thị Quỳnh N trả khoản tiền vay tín dụng
