Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 09/2025/DS-ST

Ngày 29 - 5 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sen

Ông Mai Đức Danh

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Vân Ánh - Là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 28/2024/TLST-DS ngày 28/6/2024 về việc: “Kiện đòi tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 36/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 07/2025/QĐ-HPT ngày 06/5/2025 của TAND thị xã Nghi Sơn giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lường Thị P - Sinh năm 1964 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Ông Mai Công L - Sinh năm 1962 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ nguyên đơn bà Lường Thị P trình bày:

Ông Mai Công L và gia đình bà Lường Thị P có mối quan hệ quen biết do trước đây là công an huyện T cùng công tác với chồng bà nên thường xuyên đến nhà chơi. Trong năm 2015, ông L đã nhiều đến nhà bà vay tiền, bà đã cho ông L vay tổng số tiền 760.000.000₫ (Bảy trăm triệu đồng), cụ thể:

  • + Ngày 03/3/2015 (âm lịch) ông L vay bà số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng chẵn).
  • + Ngày 5/3/2015 (âm lịch) ông L vay bà số tiền 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng chẵn).
  • + Ngày 6/3/2015 (âm lịch) ông L vay bà số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng chẵn)
  • + Ngày 6/7/2015 (dương lịch) ông L vay bà số tiền 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng chẵn)
  • + Ngày 24/5/2015 (Dương lịch) ông L vay bà số tiền là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng)
  • + Ngày 01/4/2015 (Dương lịch) ông L vay bà số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng chẵn).
  • + Ngày 13/5/2015 (Dương lịch) ông L vay bà 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng chẵn).
  • + Ngày 7/2/2015 (âm lịch) ông L vay bà số tiền là: 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng)
  • + Ngày 25/2/2015 (âm lịch) ông L vay bà số tiền là: 65.000.000đ (sáu mươi lăm triệu đồng)
  • + Ngày 10-3-2015 (Âm lịch) ông L vay bà số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng). Đến chiều 10/3/2015 (Âm lịch) ông L vay bà 10.000.000đ. Tổng số tiền vay trong ngày 10/3/2015 là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
  • + Ngày 12/3/2015 (Âm lịch) ông lân vay bà số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng)
  • + Ngày 29/3/2015 (Âm lịch) ông L vay bà số tiền 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng). Đến chiều 29/3/2015 (Âm lịch) ông L vay bà số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng chẵn).

Mỗi lần vay, khi bà đưa tiền cho ông L thì ông L đều viết giấy vay nợ, có ký và ghi rõ họ tên, các bản gốc giấy vay nợ bà đều đã nộp cho Tòa án.

Sau khi vay tiền, bà đã nhiều lần bà yêu cầu ông L trả nợ nhưng ông L không trả. Đến ngày 30/11/2015, bà đến gặp ông L yêu cầu trả nợ thì ông L đã khất nợ, xin trả dần và viết “Giấy xin khất nợ” với nội dung: Hẹn đến ngày 15/12/2015 âm lịch sẽ trả cho Bà 400.000.000đ (bốn trăm triệu). Tuy nhiên đã quá hạn mà ông L vẫn không trả cho Bà đồng nào, nên nay Bà khởi kiện yêu cầu ông L phải trả cho Bà toàn bộ số tiền nợ là 760.000.000₫ (bảy trăm sáu mươi triệu) mà ông L đã vay của Bà. Bà không yêu cầu tính lãi.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, các văn bản tố tụng và nhiều lần triệu tập ông L đến làm việc, nhưng ông L không đến theo thông báo của toà án, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà P.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại phiên tòa. Nguyên đơn, chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông L phải trả cho bà P số tiền 760.000.000đ (bảy trăm sáu mươi triệu đồng). Về án phí: Ông L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp Kiện đòi tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 2 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Tại phiên toà, ông Mai Công L đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt, vì vậy, tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông L theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, giấy xin khất nợ, các giấy có nội dung vay nợ, có chữ viết và chữ ký của ông Mai Công L. Có cơ sở xác định: Ông Mai Công L đã vay tiền của bà Lường Thị P tổng số tiền 760.000.000đ (bảy trăm sáu mươi triệu đồng) thể hiện tại nội dung các giấy vay nợ như sau:

- 05 tờ giấy có nội dung ông Mai Công L vay tiền bà Lường Thị P bản gốc viết tay. Cụ thể nội dung:

  • + Tờ thứ nhất viết tay hai mặt:
  • “Hôm nay ngày 03/3/2015 (âm lịch) Tôi Mai Công L, cán bộ công an T vay của chị P vợ anh T công an huyện với số tiền là: 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng chẵn)”, người vay ký tên Mai Công L. “Hôm nay ngày 5/3/2015 (âm lịch) tôi: Mai Công L, cán bộ công an huyện T vay của chị P vợ anh T với số tiền 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng chẵn)”, người vay ký tên Mai Công L.
  • “Ngày 6/3/2015 (âm lịch) Tôi L – Công an T đã vay của chị P vợ anh T số tiền là: 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng chẵn)” người vay ký tên Mai Công L.
  • “Ngày 12/3/15 (Âm lịch). Tôi Mai Công L, Công an huyện T đã vay của chị P (Vợ anh T) với số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng chẵn)”, người vay ký tên Mai Công L.
  • “Ngày 29/3/2015 (âm lịch). Tôi Mai Công L, cán bộ công an T vay của chị P (vợ anh T) với số tiền là 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng)”, người vay ký tên Mai Công L.
  • “Chiều 29/3/2015 (Âm lịch) tôi Mai Công L, công an Tĩnh Gia vay của chị P (vợ anh T) với số tiền là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng chẵn)”, người vay ký tên Mai Công L.
  • + Tờ thứ hai ghi: “Ngày 6/7/2015 (dương lịch). Tôi: Mai Công L, cbộ CA huyện T vay của chị P (vợ anh T) số tiền là : 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng chẵn)”, người vay ký tên Mai Công L.
  • + Tờ thứ ba ghi: “Hôm nay là ngày 24/5/2015 (Dương lịch) Tôi là: Mai Công L, cán bộ công an T vay của chị P (vợ anh T) với số tiền là 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng)”, người vay ký tên Mai Công L.
  • + Tờ thứ tư ghi:
  • “Hôm nay ngày 01/4/2015 (Dương lịch). Tôi là: Mai Công L, cán bộ công an T vay của chị P (vợ anh T) với số tiền là 10.000.000đ (mười triệu đồng chẵn)”, người vay ký tên Mai Công L.
  • “Hôm nay ngày 13/5/2015 (Dương lịch). Tôi: Mai Công L, Công an huyện T vay của chị P (vợ anh T công an huyện) với số tiền là: 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng chẵn), người vay ký tên Mai Công L.
  • + Tờ thứ năm ghi:
  • “Ngày 7/2/2015 (AL) Tôi: Mai Công L, CA tĩnh gia vay của chị Phượng Hải H số tiền là: 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng chẵn)”, có ký tên.
  • “Ngày 25/2/2015 A). Tôi: Mai Công L, CA tĩnh gia vay của chị P số tiền là: 65.000.000₫ (sáu mươi lăm triệu đồng chẵn)”, người vay ký tên Mai Công L.
  • “Ngày 10-3-2015 (Âm lịch). Tôi: Mai Công L CA tĩnh gia vay của chị: Lường Thị P với số tiền là 10.000.000đ (mười triệu đồng chẵn)”, người vay ký tên Mai Công L.
  • “Chiều 10/3/2015 (Âm lịch) L vay: 10.000.000đ. Tổng số tiền vay là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng chẵn)”, người vay ký tên Mai Công L.

- 01 bản gốc giấy xin khất nợ viết tay mực xanh đề ngày 30/11/2015 dương lịch, có nội dung: “Tôi là Mai Công L, cán bộ C đã vay của anh T (chị P) ở xã C một số tiền tôi hẹn với anh T (chị P) đến ngày 15/12/2015 (AL) tôi sẽ hoàn trả lại số tiền cho anh chị, ít nhất là trả được 400.000.000 (bốn trăm triệu đồng). Tôi xin cam đoan sẽ trả đúng hạn, nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm trước vợ chồng anh chị và trước pháp luật”, người vay tiền ký ghi họ tên Mai Công L.

Toàn bộ các giấy tờ này đã được Tòa án công bố tại phiên họp công khai chứng cứ, tống đạt và niêm yết nội dung công khai chứng cứ cùng bản sao cho ông L. Ông L đã được biết nội dung nhưng không có ý kiến gì. Sau khi vay tiền, bà P đã nhiều lần yêu cầu ông L trả nợ nhưng ông không trả. Như vậy, việc bà P khởi kiện là có căn cứ pháp luật, phù hợp với Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự.

[3] Về án phí: Ông L phải chịu án phí theo quy định. Bà P không phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Điều 463, Điều 466 và Điều 357 Bộ luật dân sự 2015; Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 BLTTDS; Khoản 2 Điều 26, điểm b tiểu mục 1.3 mục 1 phần II Danh mục án phí Tòa án - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lường Thị P. Buộc ông Mai Công L phải trả cho bà Lường Thị P số tiền 760.000.000đ (bảy trăm sáu mươi triệu đồng).

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Mai Công L không trả được số nợ trên cho bà P thì bà P có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Nghi Sơn, Thanh Hoá thi hành số tiền nợ trên. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong Bản án, hàng tháng, ông L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành theo mức lãi suất của quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

* Về án phí: Ông Mai Công L phải chịu 34.400.000đ (ba mươi tư triệu bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 09/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, giấy xin khất nợ, các giấy có nội dung vay nợ, có chữ viết và chữ ký của ông Mai Công L. Có cơ sở xác định: Ông Mai Công L đã vay tiền của bà Lường Thị P tổng số tiền 760.000.000đ (bảy trăm sáu mươi triệu đồng) thể hiện tại nội dung các giấy vay nợ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger