Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/DS-ST

Ngày 07-02-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Tấn Thanh.
  2. Bà Bùi Thị Thu Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 577/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 346/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Địa chỉ: số B - B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạnh D, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng C, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh T, theo văn bản ủy quyền số 3524/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023.

Người được ông C ủy quyền lại: Ông Phan Thành L, chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ, theo văn bản ủy quyền ngày 29/10/2024 (có mặt).

Địa chỉ: số F, đường Đ, Phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Bà Trương Thị M, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: số A, đường Đ, Phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (Ngân hàng TMCP S) là ông Phan Thành L trình bày:

Ngày 29/6/2023 bà Trương Thị M có ký kết với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh T Hợp đồng cấp thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản, điều kiện phát phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Căn cứ thu nhập của bà Trương Thị M Ngân hàng đã đồng ý cấp cho bà M thẻ tín dụng hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, tính đến ngày 25/8/2024 và ngày 05/9/2024 bà Trương Thị M đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 68.042.000 đồng, tiền lãi là 13.389.504 đồng, tiền phí là 1.819.461 đồng. Tính đến ngày 25/8/2024 và ngày 05/9/2024 bà M đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền tổng cộng là 27.197.000 đồng, trong đó thanh toán vốn là 21.371.761 đồng, thanh toán lãi là 5.825.239 đồng. Kể từ đó đến nay bà M không thanh toán cho Ngân hàng, qua nhiều lần làm việc, nhắc nhỡ tạo điều kiện cho bà M thanh toán khoản vay thẻ tín dụng nhưng bà M vẫn không có thiện chí trả nợ.

Bà Trương Thị M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại Điều 18 Bản điều khoản, điều kiện phát phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 05/9/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ (Điều 23 Bản điều khoản, điều kiện phát phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn từ ngày 25/8/2024.

Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà Trương Thị M phải trả ngay cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 07/02/2025 là 68.346.360 đồng, trong đó dư nợ quá hạn là 56.053.965 đồng, tiền lãi quá hạn là 12.292.395 đồng, trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Sau ngày 07/02/2025 nếu bà Trương Thị M chậm thanh toán còn phải trả thêm tiền lãi và lãi chậm trả của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản, Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) cho đến khi trả hết nợ.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập cho bị đơn bà Trương Thị M nhưng bà M không có văn bản trình bày ý kiến và không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn đã được triệu hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà Trương Thị M phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 07/02/2025 tổng cộng 68.346.360 đồng. Ngoài ra các đương sự không có yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng tín dụng.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Trương Thị M cư trú tại số A, đường Đ, Phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vụ án không thuộc trường hợp quy định khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên tòa sơ thẩm.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Trương Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà Trương Thị M phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 07/02/2025 tổng cộng 68.346.360 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngày 29/6/2023 Ngân hàng TMCP S và bà Trương Thị M ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao bồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản, điều kiện phát phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Hạn mức sử dụng thẻ là 50.000.000 đồng. Ngân hàng TMCP S và bà Trương Thị M đã tự nguyện thoả thuận ký kết hợp đồng theo hình thức, nội dung phù hợp với quy định tại Điều 385, 401 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 14 và 16 Điều 4, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, tính đến ngày 25/8/2024 và ngày 05/9/2024, bà Trương Thị M đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 68.042.000 đồng, tiền lãi là 13.389.504 đồng, tiền phí là 1.819.461 đồng. Tính đến ngày 25/8/2024 và ngày 05/9/2024 bà M đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền tổng cộng là 27.197.000 đồng, trong đó thanh toán vốn là 21.371.761 đồng, thanh toán lãi là 5.825.239 đồng, kể từ đó đến nay bà M không thanh toán cho Ngân hàng. Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản, Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng các bên đã tự nguyện thỏa thuận cụ thể về lãi suất cho vay, phương pháp tính lãi, cơ chế điều chỉnh lãi suất. Thỏa thuận này hoàn toàn phù hợp với quy định về lãi suất cho vay tại Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 7, khoản 2 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Đối chiếu với bảng tóm tắt sao kê tài khoản vay của bà Trương Thị M thì thấy mức lãi suất của khoản vay đã được điều chỉnh phù hợp với với thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng tín dụng và không vượt quá quy định của pháp luật về lãi suất cho vay.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà Trương Thị M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và nợ lãi theo thỏa thuận Điều 18 Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, đôn đốc bà M nhưng đến nay bà L1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Ngân hàng TMCP S yêu cầu yêu cầu bà Trương Thị M trả cho ngân hàng số tiền tính đến ngày 07/02/2025 là 68.346.360 đồng, trong đó tiền vốn là 56.053.965 đồng, tiền lãi là 12.292.395 đồng, trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật, sau ngày 07/02/2025 nếu bà M chậm thanh toán còn phải trả thêm tiền lãi quá hạn của hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ là có căn cứ là phù hợp quy định pháp luật.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.

[3] Về án phí: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội là 3.417.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 466 Bộ Luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

Buộc bà Trương Thị M trả cho ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 07/02/2025 là 68.346.360 đồng (Sáu mươi tám triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm sáu mươi đồng), trong đó tiền vốn là 56.053.965 đồng (Năm mươi sáu triệu không trăm năm mươi ba nghìn chín trăm sáu mươi lăm đồng), tiền lãi là 12.292.395 đồng (Mười hai triệu hai trăm chín mươi hai nghìn ba trăm chín mươi lăm đồng), trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ sau ngày 07/02/2025 bà Trương Thị M phải tiếp tục trả lãi đối với số tiền nợ chưa trả theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

2. Về án phí: Bà Trương Thị M phải chịu 3.417.000 đồng (Ba triệu bốn trăm mười bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại Ngân hàng TMCP S 1.474.000 đồng (Một triệu bốn trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006086 ngày 14/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Trương Thị M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND TP. Mỹ Tho;
  • - Chi cục THADS TP. Mỹ Tho;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Kiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 09/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger