|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/DS-ST
Ngày: 20/3/2025
V/v: tranh chấp tài sản - QSD đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Lan Hương;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tuấn Cường, ông Bùi Thanh Nhiến
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Huy, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hòa Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 31/2022/TLST-DS ngày 25 tháng 5 năm 2022; về tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn:
ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1937;
Địa chỉ: Tổ A, Phường D, Thành phố (TP) Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Có mặt.
-
Bị đơn:
Ông Quách Thế H, sinh năm 1953
Địa chỉ: Số nhà A, Tổ F, phường Q, TP H, tỉnh Hòa Bình.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Bích N, địa chỉ: Tổ A, Phường: T, TP H, tỉnh Hòa Bình. Bà Nguyễn Thị D, địa chỉ: Tổ A, Phường: H, TP H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Tham gia tố tụng về phía nguyên đơn
-
Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1942 (Vợ ông T). Vắng mặt.
-
Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1962 (Vợ ông Nguyễn Văn Đ). Vắng mặt.
(Hai người tên giống nhau)
-
Chị Nguyễn Thị Phương T2, sinh năm 1987
(Con gái ông Đ + bà T1). Vắng mặt.
-
Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1992 (Con gái ông Đ + bà T1). Vắng mặt.
Các đương sự có tên nêu trên cùng có HKTT và cư trú với ông T tại địa chỉ: Tổ A, Phường :, Tp H, tỉnh Hòa Bình; có văn bản ủy quyền cho ông Nguyễn Văn T tham gia tố tụng trong vụ án.
-
Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1970 (con trai ông T). Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ A, Phường D, TP H, Tỉnh Hòa Bình.
-
Nguyễn Văn V, sinh năm 1972 (con trai ông T). Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ A, P: D, TP H, tỉnh Hòa Bình.
Tham gia tố tụng về phía bị đơn:
-
Bà Nguyễn Thị H1, vợ ông H, có cùng địa chỉ như ông H. Vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là các cơ quan liên quan, Tòa án đưa vào tham gia tố tụng gồm:
-
Ủy ban nhân dân Thành phố H;
Địa chỉ: Tổ A, Phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Anh Q1 – Chủ tịch. Vắng mặt.
-
Ủy ban nhân dân Phường D;
Địa chỉ: Đường L, Phường D, TP H, tỉnh Hòa Bình
Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Quang H2 – Chủ tịch. Vắng mặt.
-
Hạt Kiểm lâm Thành phố Hòa Bình
Địa chỉ: Tổ Dân phố M, Phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình
Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Đức C – Hạt trưởng. Vắng mặt.
-
-
Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng/biết việc:
-
+ Ông Nguyễn Văn D1 (cùng con trai là ông Nguyễn Văn T3), sinh năm 1967; Địa chỉ: Tổ A, Phường :, TP H, tỉnh Hòa Bình.Vắng mặt.
-
+ Ông Nguyễn Trung K (Nguyễn Văn K1), sinh năm 1960. Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ A, Phường D, TP H
-
+ Ông Nguyễn Bá C1, sinh năm 1955. Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ C, Phường D - TP H, tỉnh Hòa Bình.
-
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Theo đơn khởi kiện, bổ sung khởi kiện, trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Trước năm 1990, ông Nguyễn Văn Đ là con trai ông T đã làm đơn lên xã xin đất để làm vườn rừng và đã được UBND xã D cấp đất cho làm vườn rừng, trồng mía, hoa màu, sau đó gia đình nhà ông trồng keo. Đến năm 1992 được cấp sổ giao đất giao rừng mang tên con trai của ông T là: Nguyễn Văn Đ do “Ban Lâm bạ” huyện K tỉnh Hà Sơn Bình (cũ) cấp. Năm 1996 gia đình ông Đ được UBND thị xã H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất, số vào sổ 000323 QSDĐ/ĐC UBND cấp ngày 20/9/1996, tổng diện tích sử dụng: 4,96ha; gồm 06 thửa; trong đó có Thửa (Lô) số 176, Tờ bản đồ (khoảnh) 3, diện tích 0,10ha, đất trồng rừng sản xuất. Lô 176 ông T canh tác có vị trí cạnh ông D1 (con là T3), ông K1...
Năm 1993, có ông Quách Thế H chiếm thửa đất của gia đình ông T lô 03, thửa 176, diện tích 0,10 ha. Năm 2012, U lại cấp GCNQSD đất cho ông Quách Thế H trồng lấn lên diện tích thửa đất 176 đã được cấp cho gia đình ông T (Trong GCNQSD đất đứng tên con trai ông là Nguyễn Văn Đ) dẫn đến việc xảy ra tranh chấp đất đai. Khi ông H về chiếm đoạt đất không cho bà con nhân dân xã biết và đã cho người chặt hết vườn cây keo, trong đó có cả vườn cây của nhà ông T. Ông T đã nhiều lần lên xã đề nghị giải quyết vụ việc nhưng cho mãi đến năm 2015 xã mới mời các bên lên hòa giải nhưng kết quả không thành; xã tư vấn cho ông T làm đơn lên UBND Thị xã; UBND thị xã chuyển đơn ông T lên Tòa án nhân dân (TAND) TP H. Năm 2015, ông Đ đã khởi kiện lên TAND TP Hòa Bình, thụ lý giải quyết, hòa giải không thành. Ngày 06/9/2019, TAND TP ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 45/2019/QÐST-DS do ông Đ rút đơn khởi kiện. Ngày 14/01/2020 ông Đ chết. Sau đó ông T có khởi kiện vụ án hành chính ra TAND tỉnh Hòa Bình; ngày 26/8/2021, TAND Tỉnh Hòa Bình ban hành “Thông báo trả lại đơn khởi kiện” đề ngày 20/7/2021 của ông T (với nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết thu hồi Giấy CNQSD đất ông Quách Thế H) - lý do trả lại đơn khởi kiện là: “Người khởi kiện không có quyền khởi kiện”. Ngày 19/11/2021, TAND Tỉnh Hòa Bình tiếp tục ban hành “Thông báo trả lại đơn khởi kiện” số 17/TB-TA trả lại đơn khởi kiện cho ông T với lý do: (1) Giấy CNQSD đất tên ông Đ, ông Đ chết, ông T khởi kiện khi chưa có Văn bản xác nhận những người thừa kế của ông Đ là những ai, họ chưa ủy quyền cho ông T đứng ra khởi kiện; (2) ông T chưa có quyền khởi kiện vì chưa xuất trình được “Biên bản hòa giải” tại cơ sở, vì Biên bản hòa giải trước đây ông Đ1 khởi kiện, nay ông T khởi kiện thì phải hòa giải cơ sở lại; (3) nội dung khởi kiện của ông T là khởi kiện vụ án dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND TP Hòa Bình. Ngày 21/02/2022, ông T tiếp tục khởi kiện đến TAND TP Hòa Bình.
Ông T yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
- Yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp đất giữa gia đình ông và gia đình ông H, xác định gia đình ông T là người có quyền sử dụng thửa đất lô 176 nói trên. Trên cơ sở đó, yêu cầu UBND Thành phố H thu hồi GCNQSD đất đã cấp cho ông Quách Thế H, theo đó ông H phải trả lại diện tích đất 0,10ha thửa 176 cho ông T.
Ngoài ra, ông T yêu cầu ông H phải đền bù số tiền:
- Chi phí khởi kiện, xem xét thẩm định, trước đây nhiều năm ông T đi kiện phải nộp cho TAND TP Hòa Bình 9.200.000 đồng trong giai đoạn vụ án đình chỉ trước đây;
- Tiền chặt phá vườn cây keo ông trồng từ năm 1990 đến thời điểm chặt phá; tình thành tiền là 12.500.000 đồng (Vì 250.000 đồng đã nhận trước đây là tiền mua cây giống, chưa có đền bù cây thành phẩm tại thời điểm chặt phá).
- Tiền đền bù thiệt hại không được sử dụng đất trong vòng 31 năm nay, mỗi năm 5.000.000 đồng, nhân lên là: 155.000.000 đồng
- Sau cùng, trước khi xét xử ông T bổ sung thêm yêu cầu ông H phải đền bù:15.000.000 đồng tiền công đi lại, mất ngày làm, soạn thảo, in ấn, viết đơn.
Tổng là: 191.700.000 đồng.
Ông T xuất trình các tài liệu, chứng cứ như sau:
- GCNQSDĐ mang tên Nguyễn Văn Đ số vào sổ 000323 QSD Đ/ĐC - UBND Thị xã H cấp ngày 20/9/1996, tổng diện tích sử dụng: 4,96ha đất trồng rừng sản xuất; gồm 06 thửa:
-
+ Thửa (Lô) số 13a, Tờ bản đồ (khoảnh) 1, diện tích 2,6ha;
-
+ Thửa (Lô) số 50, Tờ bản đồ (khoảnh) 3, diện tích 0,40ha;
-
+ Thửa (Lô) số 176, Tờ bản đồ (khoảnh) 3, diện tích 0,10ha;
-
+ Thửa (Lô) số 82, Tờ bản đồ (khoảnh) 3, diện tích 0,16ha;
-
+ Thửa (Lô) số 339, Tờ bản đồ (khoảnh) 3, diện tích 0,30ha;
-
+ Thửa (Lô) số 183đ, Tờ bản đồ (khoảnh) 3, diện tích 1,40ha.
Toàn bộ các thửa đất tọa lạc tại: xóm M Trên, xã D, Thị xã H, tỉnh Hòa Bình (Nay là Tổ A, Phường D, TP H, tỉnh Hòa Bình.
- Sổ giao đất, giao rừng (bản photo) ngày 25/5/1992
- Biên bản giao đất làm vườn rừng ngày 15/5/1992 Bút lục 16, diện tích: 0,50ha, không ghi vị trí. Bản sao có công chứng;
- Quyết định giao đất giao rừng 25/5/1992 (Giao tên ông Nguyễn Văn Đ) diện tích: 6.600 m² (Trong đó có khoảnh 4 – Lô 13c-1 = 5.000m² đất trống và khoảnh 4 Lô 2-3 với diện tích 1.600m² (Kèm theo tờ “Sơ đồ diện tích khu vực giao đất giao rừng” để trống nội dung);
- Biên bản đền bù ngày 13/9/1993;
- Các văn bản trả lời, giải quyết của UBND TP, TAND Tỉnh, TAND TP.
-
-
Trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, bị đơn ông Quách Thế H và người đại diện theo ủy quyền của ông H trình bày:
Khu vực gốc nhãn ở S - Xóm M - Xã D, khu Đ là khu vực đất do UBND xã D - thị xã H, nay là UBND phường D - TP H quản lý. Năm 1993 thực hiện Nghị quyết số 02 của Tỉnh ủy H3 về phát triển cây ăn quả, ông tham gia nhận đất do U để thực hiện trồng cây ăn quả theo quy hoạch; cụ thể là 10.000m² tại khu vực Đồi K thuộc xóm M, phường D, TP H (theo sổ giao đất, giao rừng số 351/LB ngày 16/09/1993).
Trước khi U giao đất cho ông H, ngày 13/09/1993, theo các tài liệu ông H thu thập được thì tại trụ sở UBND xã D có sự tham gia đầy đủ các thành phần và các hộ trồng rừng theo chương trình Pam trên khu đất này, trong đó có chủ hộ ông Nguyễn Văn T đã thống nhất về việc đền bù và không có ý kiến gì khác, cùng xác nhận ký tên làm cơ sở thực hiện. Ngày 15/09/1993, U có quyết định giao đất, giao rừng để sản xuất kinh doanh cho ông H. Ông H cho rằng việc ông được nhận đất do UBND xã quản lý đã thực hiện đầy đủ theo quy định, quy trình đúng theo quy định pháp luật. Sau khi nhận đất, gia đình ông đã tiến hành trồng các bụi cây tre để rào xung quanh mảnh đất cho đến thời điểm hiện tại. Từ khi được giao đất đến nay gia đình ông H liên tục sử dụng, không có tranh chấp, chuyển nhượng cho ai khác.
Theo Quyết định số 672/QĐ – TTg ngày 26/04/2006 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2012, sau khi thực hiện đo đạc thực tế diện tích lô đất mà ông H được giao sử dụng ngày 15/09/1993, xác định có diện tích thực tế là 6.114,1m². Ngày 25/06/2012, U cấp GCNQSDĐ số BL 531152 mang tên ông Quách Thế H, thời hạn sử dụng đất đến 20/09/2046 (Với diện tích thực tế nêu trên).
Ông H đề nghị Tòa án sớm làm rõ có hay không việc trồng lấn giữa mảnh đất ông được giao theo sổ giao đất, giao rừng số 351/LB ngày 16/09/1993 (GCNQSDĐ số BL 531152 ngày 25/03/2012) với lô đất 176 khoảnh 3 trên GCNQSDĐ số K357818 ngày 20/09/1996 tên Nguyễn Văn Đ. Nếu có việc chồng lấn đề nghị Tòa án kiến nghị cơ quan có thẩm quyền chỉnh lý cho phù hợp với thực tế người đang sử dụng đất hợp pháp là ông H.
Ông H xuất trình tài liệu, chứng cứ gồm:
- Biên bản giao đất làm vườn rừng ngày 09/09/1993 (bản sao),
Được lập tại UBND xã D, thành phần bên giao: ông Nguyễn Đức T4 - Đại diện Hạt kiểm lâm N; Ông Nguyễn Bá C1 – Đại diện UBND xã D; Ông Bùi Văn C2, Đại diện UBND xã D; ông Nguyễn Đức D2 – Cán bộ QLR đất xã D; bên nhận đất: ông Quách Thế H. Thời hạn sử dụng 50 năm đến năm 2043.
- Biên bản cuộc họp ngày 11/9/1993 do U1 đã thống nhất về việc sử dụng đất đai như sau:
Đồng ý với xã thu hồi đất trước đây là đất do UBND xã quản lý mà các hộ đã trồng cây vào. Thống nhất việc đền bù khai phá và đền bù cây cối do hộ trồng cây ăn quả đã chặt hạ. UBND xã D đền bù cho các hộ theo Biên bản Hội nghị đã xác định ngày 11/9/1993 cụ thể là: hộ ông Nguyễn Văn T 250 cây, thành tiền 250.000.000 đồng, công khai phá 50.000 đồng, cộng tiền là: 300.000.000 đồng, người nhận thay là ông Nguyễn Văn Đ. Biên bản ghi rõ: sau khi nhận bồi thường xong các hộ không được sử dụng đất trên để làm bất cứ việc gì khác. UBND xã sẽ sử dụng đất này để đưa vào sản xuất trồng cây ăn quả. Biên bản lập xong cùng nhau thanh quyết toán đầy đủ và đọc lại không có ý kiến gì khác cùng ký tên làm cơ sở thực hiện.
- Quyết định giao đất giao rừng để sản xuất, kinh doanh ngày 15/9/1993 UBND Thị xã H: “Điều 1. Giao cho ông Quách Thế H thuộc HTX D4, xã D diện tích đất rừng để sản xuất...” 10.000m² Đồi K - xã D.
- Biên bản đền bù tiền cây và công khai phá đất để sử dụng trồng cây ăn quả (bản sao) ngày 17/9/1993: thành phần tham gia gồm: Đại diện UBND xã (Chủ tịch Nguyễn Bá C3 + Phó chủ tịch Nguyễn Thế V1); ông Đỗ Văn T5 - Trưởng Phòng lâm nghiệp Thị xã H; các hộ gia đình có nương: ông Nguyễn Đức D2, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Trung K; Đại diện HTX P của xã: ông Nguyễn Đình T6 – Kế toán.
- T7 bìa Sổ giao đất, giao rừng số 351/LB ngày 16/09/1993 (bản sao)
- Giấy CNQSDĐ số BL 531152 ngày 25/06/2012, đất rừng sản xuất, thời hạn sử dụng đến năm 2046. Người ký: Chủ tịch U Nguyễn Tùng D3. Kèm theo trích sơ đồ đất ở T 3 của Giấy chứng nhận.
Ông H có đơn phản tố, yêu cầu Tòa án xác định phần đất ông T đang tranh chấp với ông H là đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông H đã được Nhà nước giao, cấp đúng theo quy định pháp luật.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Tham gia tố tụng về phía ông T:
Những thành viên hộ gia đình tại thời điểm giải quyết vụ án bao gồm: bà T1 (vợ ông T), bà T1 (vợ ông Đ) cùng các con của ông Đ và bà T1 gồm: chị T2, chị Y đều đồng ý với khởi kiện của ông T và có Văn bản ủy quyền cho ông T tham gia tố tụng (Bút lục số 55).
Tham gia tố tụng về phía bị đơn: bà Nguyễn Thị H1, vợ ông H nhất trí với trình bày của ông H.
Ngoài ra, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác có ý kiến như sau:
*/ Ý kiến ông Nguyễn Văn Q (con trai ông T)
Tại Biên bản xác minh ngày 04/12/2024, ông Q cho biết về gia đình bố mẹ và việc ông Đ đứng tên trong giấy chứng nhận QSD là đúng như ông T trình bày. Khi ông Q còn ở chung bố mẹ, về thửa đất ông T đang đi kiện thì khoảng năm 1984, 1985 ông Q cũng được đi trồng bông trồng mía, keo; khoảng năm 1991 ông Q lấy vợ ra ở riêng; ông Q được biết gia đình bố mẹ ông lúc bấy giờ được cấp đất rừng ở hai khu vực một là ở khu vực trang trại bố mẹ ông đang ở bây giờ, hai là khu vực có 1 cái ao gần nhà gốc, ba là một thửa đất ở khu vực có tên là “Suối Lá” hay còn gọi là khu vực “Khe Xanh” - tức là vị trí đang tranh chấp với ông H. Giấy chứng nhận QSD đất của gia đình bố mẹ có bao nhiêu thửa đất thì ông Q không biết vì bố ông giữ. Thời điểm cấp giấy chứng nhận QSD đất ông đã lấy vợ ở riêng nhưng thời điểm phát hoang thì ông vẫn còn ở chung bố mẹ. Việc ông T được bồi thường tiền cây cối hoa màu và công khai phá theo Biên bản đền bù tiền cây và công khai phá đất “Ngày 13/9/1993” thì ông Q không biết, không tham gia. Nay bố ông khởi kiện, ông nhất trí theo nội dung khởi kiện của bố ông, còn về quyền lợi bản thân, ông Q không có đề nghị giải quyết gì trong vụ án này. Ông Q đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông Q.
*/ Ý kiến ông Nguyễn Văn V con trai ông T:
Bản tự khai ngày 04/12/2024, ông V cho biết: ông V kết hôn năm 1989, năm 1991 ra ở riêng. Trong thời gian trước khi kết hôn ông V sống cùng bố mẹ và được phát hoang canh tác cùng với bố mẹ; năm 1996, gia đình được cấp giấy chứng nhận QSD đất đứng tên người con trai trưởng là Nguyễn Văn Đ. Việc ông T nhận số tiền đền bù cây và công khai phá thời điểm năm 1993, ông V không biết, không tham gia. Ông nhất trí để ông T toàn quyền giải quyết việc đất đai của gia đình, nhất trí với trình bày của ông T. Ông V đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông V.
*/ Ủy ban nhân dân Thành phố H:
Tại văn bản trả lời số 1898 ngày 08/6/2021, UBND Thành phố H trả lời ông T (Bản phô tô ông T nộp cùng đơn khởi kiện), về việc: Năm 1996 UBND Thị xã H, nay là U đã cấp Giấy CNQSD đất cho con ông là Nguyễn Văn Đ, sau đó năm 2012 lại cấp Giấy CNQSD đất cho ông Quách Thế H.
Về nguồn gốc đất, sau khi kiểm tra, xem xét hồ sơ tài liệu liên quan đến vụ việc, U có ý kiến như sau: Ngày 25/5/1992, UBND Thị xã H đã ban hành Quyết định giao đất giao rừng để sản xuất kinh doanh cho ông Nguyễn Văn Đ với diện tích 5000 m² Khoảnh 4 – Lô 13c-1 và K Lô B 1.600m ² đất trống. Quá trình thực hiện giải phóng mặt bằng diện tích Đồi Khe Xanh - UBND xã D tại cuộc họp ngày 13/9/1993 các thành phần đã thống nhất “Đồng ý với xã thu hồi đất trước đây do UBND xã quản lý và trồng cây; thống nhất việc đền bù khai phá và đền bù cây cối do các hộ trồng cây ăn quả, UBND xã đền bù cho các hộ theo biên bản ngày 11/9/1993. Sau khi nhận tiền bồi thường xong, các hộ không được sử dụng đất trên để làm bất cứ việc gì. UBND xã sẽ sử dụng trồng cây ăn quả”; Biên bản này các thành phần ký tên trong đó có ông Đảm nhận tiền thay bố là ông T. Sau khi nhận tiền, ông Đ, ông T không sử dụng thửa đất trên. Đến ngày 20/9/1996 ông Đ tự kê khai và được UBND Thị xã H cấp Giấy CNQSD đất trong đó có thửa 176 Khoảnh 3 Đồi Khe Xanh, diện tích 0,1ha (1000m²).
Ông H đang sử dụng thửa đất 331, tờ bản đồ 01, diện tích 6.114,1m², mục đích sử dụng đất rừng sản xuất, có nguồn gốc được UBND Thị xã H ban hành Quyết định giao đất giao rừng cho hộ gia đình sản xuất, kinh doanh mang tên ông H, cấp ngày 15/9/1993, diện tích 10.000m² Đồi K. Ông H sử dụng liên tục đến năm 2012 được đo đạc theo Quyết định 672/TTg ngày 26/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ. Sau đó UBND Phường D đã hướng dẫn ông H kê khai thủ tục cấp Giấy CNQSD đất. Ngày 25/6/2012, UBND Thành phố H cấp Giấy CNQSD đất cho ông H thửa 331, Tờ Bản đồ 01, Diện tích thực tế 6.114,1m², đất rừng sản xuất. Hai hộ tranh chấp, UBND Thành phố H đề nghị ra Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, theo yêu cầu của Tòa án, UBND Thành phố H có văn bản số 13/UBND-TNMT ngày 07/01/2025 với nội dung: tương tự như văn bản số 1898 ngày 08/6/2021 ông T nộp cho Tòa án. Đồng thời có ý kiến diện tích đất thực tế theo giấy chứng nhận QSD đất ông H đang sử dụng giảm 3.885,9m² so với diện tích được giao năm 1993 là do trước kia giao đất theo lô khoảnh, chưa được đo đạc, dẫn đến diện tích chưa chính xác; tuy nhiên ông H vẫn sử dụng từ đó đến nay.
Việc ông T cho rằng diện tích đất ông H được cấp giấy chứng nhận QSD đất có trồng lấn lên diện tích đất đứng tên ông Đ; hòa giải cơ sở không thành, ông T đã khởi kiện ra Tòa án, đề nghị Tòa án phối hợp các đơn vị có liên quan tổ chức xem xét thẩm định trên thực địa theo hiện trạng sử dụng đất để xác định vị trí, ranh giới và diện tích đất đang tranh chấp giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
*/ Ủy ban nhân dân Phường D có ý kiến:
- Biên bản xác minh ngày 15/11/2024, UBND Phường D cho biết: hồ sơ vụ việc ông T hiện lưu trữ ở UBND phường D nay chỉ còn: bản phô tô bản đồ 02 “Trích lục bản đồ giao đất khoán rừng – xin chuyển đổi sang rừng phòng hộ xã D - TX H”;
+ Bản phô tô “Biểu tổng hợp giao đất khoán rừng” của các hộ, thể hiện tên ông Đ ở số thứ tự số 29 Lô 176 khoảnh III, 0,1ha;
+ Phô tô Biên bản giao đất làm vườn rừng 09/9/1993 tên ông Quách Thế H;
+ Phô tô quyết định giao đất giao rừng 15/9/1993 tên ông Quách Thế H;
+ Phô tô “Đơn khiếu nại về đất đai, đứng tên ông Tiện 2;
+ Phô tô Giấy chứng nhận QSD đất tên ông Đ (Có thửa 176);
+ Phô tô biên bản đền bù tiền công và công khai phá đất để sử dụng trồng cây ăn quả 13/9/1993;
+ Phô tô Biên bản hội nghị ngày 11/9/1993 về việc thống nhất việc sử dụng đất trồng cây ăn quả tại Khu G “Suối Lá”;
+ Bản sao Biên bản hòa giải ngày 06/10/2015.
UBND Phường D đã rà soát nhưng không tìm thấy tài liệu lưu trữ nào khác về vụ việc. UBND Phường D xác nhận vị trí đất theo Biên bản đền bù ngày 13/9/1993 là đúng tại vị trí đất theo Biên bản xem xét, thẩm định ngày 07/4/2023 của Tòa án và các thành phần liên quan đã tiến hành.
Tại Văn bản số 68 ngày 25/02/2025, UBND Phường D trả lời Tòa án: Việc giao đất cho hộ ông Đ là giao trên giấy chứng nhận QSD đất, trên thực địa không có biên bản giao đất kèm theo và không tìm thấy biên bản giao đất trên thực địa đối với lô đất 176 khoảnh - do vậy không xác định được thực địa. Không xác định được đất hai hộ tranh chấp có cấp trùng nhau không nhưng theo biên bản xem xét thẩm định thì hai hộ đều chỉ vào một vị trí. Sau khi lập biên bản đền bù 13/9/1993 cho đến nay, ngoài hộ ông T thì không có hộ dân nào có khiếu nại. Việc triển khai nghị quyết 02 ngày 4/8/1992 ngoài những tài liệu UBND phường D đã cung cấp cho Tòa án thì không còn hồ sơ lưu nào khác.
*/ Hạt kiểm lâm Thành phố H:
Tại Văn bản số 114 ngày 04/12/2024 và Văn bản số 14 ngày 27/02/2025; Chi cục Kiểm lâm Thành phố H cung cấp thông tin cho Tòa án: đơn vị không có bản đồ 02 của xã D, TX H (cũ); không cung cấp thông tin, tài liệu và không ý kiến gì thêm, đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ việc vắng mặt Chi cục Kiểm lâm Thành phố H.
*/ Tòa án xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H:
Tại Văn bản số 24 ngày 05/3/2025, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H có ý kiến bản đồ cấp giấy chứng nhận QSD đất ông Đ không nằm trên hệ tọa độ theo quy định nên Văn phòng đăng ký đất đai không có cơ sở để xác định vị trí ranh giới các thửa đất ngoài thực địa. Đơn vị cũng không có Bản đồ giao đất, giao rừng, khoán rừng theo Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ lưu tại đơn vị. Theo văn bản của Tòa án về việc đề nghị Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H xác định vị trí thửa đất 176 ông T đang khởi kiện, tuy nhiên do không có bản đồ 02 Cp trên hệ thống dữ liệu nên cũng không thể xác định được vị trí thửa đất 176 trên giấy chứng nhận đất ông T ứng với vị trí nào trên thực địa xã D cũ nay là Phường D.
Những người biết việc và cùng thời điểm giải quyết đền bù cây cối, công khai phá đối với hộ ông T:
*/ Trình bày của ông Nguyễn Đức D2 và con trai ông D2 (là ông Nguyễn Văn T3);
tại Biên bản xác minh ngày 04/12/2024 thể hiện: khoảng năm 1983, 1989 gia đình ông D2 + T3 có canh tác ở vị trí Tòa án xem xét thẩm định đất đang tranh chấp ngày 07/4/2023; nguồn gốc đất do gia đình ông tự phát tự trồng, không có cơ quan thẩm quyền nào giao cho, diện tích không đo cụ thể; theo biên bản đền bù ngày 13/9/1993, nhà ông được đền bù 300.000 đồng, trong đó có tiền cây 250.000 đồng và 50.000 đồng là tiền công khai phá, ông D2 ký nhận. Gia đình chưa được làm thủ tục lên xã xin cấp giấy chứng nhận QSD đất; chưa có lô thửa, quy chủ, nay không còn giữ được giấy tờ gì liên quan đến thửa đất. Vị trí đất nhận đền bù 300.000 đồng là cạnh con suối nhỏ lúc có nước lúc không có nước, cạnh chỗ ông T chỉ hôm xem xét thẩm định. Thời điểm xã D làm biên bản đền bù ngày 13/9/1993, ông thấy có dự án của tỉnh về cấp cây ăn quả cho dân trồng (Vải thiều, nhãn, chè xanh) dân có ra trồng, trồng có quả nhưng sau đó không thấy có hiệu quả kinh tế nên lại thôi không phát triển nữa. Bỗng nhiên đến khoảng năm 2015 thì thấy có hộ bảo mua đất chỗ ấy làm nghĩa địa thì mới biết là đất đã cấp cho ông H, người ta nói cháu ông H đứng ra bán đất nên dân mới bức xúc, ông T mới đi đòi đất.
*/ Trình bày của ông Nguyễn Trung K:
tại Biên bản xác minh ngày 04/12/2024 ông K cho biết gia đình ông K có canh tác ở vị trí đất ông T đang tranh chấp với ông H từ khoảng năm 1985, 1986, trồng sắn, mía, hoa màu và sau cùng là trồng keo. Canh tác tự phát không có cơ quan đoàn thể nào giao. Sau đó UBND xã phổ biến chủ trương của tập thể là các hộ thu dọn cây cối hoa màu để trồng cây ăn quả; sau khi thu đất về không nhớ là có trồng cây ăn quả hay không hoặc có thể trồng một thời gian xong cây xấu, cây chết hay thế nào thì ông cũng không có nhớ rõ. Việc sử dụng đất của gia đình ông không kê khai với chính quyền địa phương, không có lô thửa, quy chủ gì. Tại thời điểm đền bù theo: “Biên bản đền bù tiền cây và công khai phá đất để sử dụng trồng cây ăn quả ngày 13/9/1993” ông K nhận số tiền 75.000 đồng trong đó: 55.000 đồng tiền cây và 20.000 đồng tiền công khai phá; cùng thời điểm ông canh tác còn có ông D2, ông T. Ông không thấy chính quyền hay cán bộ địa chính gọi ra làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSD đất bao giờ thì đã thu về rồi. Ông K xin xét xử vắng mặt.
*/ Trình bày của ông Nguyễn Bá C1:
Ông Cư nguyên là chủ tịch xã D tại thời điểm giải quyết việc đền bù cây, công khai phá đất cho ông T và các hộ dân theo Biên bản ngày 13/9/1993. Sau khi xem các tài liệu do Tòa án cung cấp, ông C1 xác nhận Biên bản họp ngày 11/9/1993 và Biên bản đền bù ngày 13/9/1993 là đúng với diễn biến thực tế vụ việc thời điểm đó.
-
Những nội dung các bên đã thống nhất, không thống nhất:
Nội dung thống nhất:
Hai bên thừa nhận “Biên bản đền bù tiền cây và công khai phá đất để sử dụng trồng cây ăn quả (bản sao) ngày 13/9/1993”. Nhất trí thủ tục công khai chứng cứ và các thủ tục tố tụng khác.
Nội dung không thống nhất:
- Ông T cho rằng UBND lấy đất của ông cấp cho ông H là không thỏa đáng, không đúng; nếu như lấy để UBND xã trồng cây ăn quả như trong biên bản thì ông nhất trí nhưng lấy để cấp cho ông H thì ông không đồng ý. Yêu cầu Tòa án xác định đó là đất của ông T và ông H phải trả lại diện tích đất 1.000m² (0,10 ha) thửa 176 cho ông T. Đề nghị cấp có thẩm quyền thu hồi lại Giấy CNQSD đất đã cấp cho ông H vào đất thửa 176 của gia đình ông. Việc nhận đền bù trong Biên bản nêu trên mới là đền bù cây cối, công trồng, chưa nhận đền bù đất. Ngoài ra, ông giữ nguyên các yêu cầu bồi thường đền bù như đã trình bày.
- Ông H và đại diện hợp pháp của ông H cho rằng đất ông H được cấp đúng theo quy định pháp luật. Không đồng ý với khởi kiện của ông T. Bởi trước khi ông H được Nhà nước giao đất thì UBND xã D đã thực hiện giải tỏa, đền bù tiền cây, công khai phá cho các hộ dân trong đó ông T và tất cả các hộ dân đã nhận đền bù, ký xác nhận không sử dụng đất nữa, không thắc mắc khiếu nại gì và việc Nhà nước giao đất, cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông là đúng với thủ tục quy định. Từ khi nhận đất gia đình ông đã sử dụng liên tục, ổn định, không có tranh chấp với các hộ liền kề nào.
-
Kết quả xem xét, thẩm định, trích đo, định giá:
*/ Xem xét thẩm định:
trên đất có các bụi tre, bương ông H trồng, không có tranh chấp với hộ liền kề khác.
*/ Trích đo hiện trạng:
- Theo sự chỉ dẫn của ông T, diện tích = 789,9m² (Đo đạc đặt là thửa 579)
- Theo sự chỉ dẫn của ông H, diện tích = 4.840,9 m² (Đo đạc đặt là thửa 580)
Thửa 579 theo ông T chỉ dẫn nằm lọt ở khoảng giữa thửa đất 331 (Tức thửa 580 trên trích đo) ông H chỉ dẫn.
Phần bao viền ông H chỉ dẫn có trùng lên một phần thửa 327 của ông Nguyễn Trung C4 (293,7m²) thửa 355 của ông Nguyễn Đức L (457,9m ²)) và thửa 371 của ông Nguyễn Đức N1 (25,7m² ) – Chiếu theo Bản đồ 672. Phía bị đơn ông H xác nhận: việc ông H chỉ dẫn đo đạc sang đất người khác là do chỉ dẫn thủ công, ông H chấp nhận việc giải quyết của Tòa án trong phạm vi Giấy chứng nhận QSD đất của ông đã được Nhà nước cấp, áp bản đồ khi đo đạc của cơ quan chuyên môn do Tòa án trưng cầu; phần khác ông không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
-
Tại phiên tòa:
- Đại diện bị đơn có nộp thêm:
- Bản sao Nghị quyết số 02 ngày 4/8/1992 Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ II về phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp gắn với bảo vệ và phát triển vốn rừng (nộp tại phiên tòa ngày: 5/8/2024).
- Các bên đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến. Ông T yêu cầu ông H phải trả thêm số tiền chi phí tố tụng ông T phải nộp trong giải quyết vụ án này là: 7.649.336 đồng; tổng cộng các khoản là: 199.349.336 đồng.
- Bị đơn rút đơn phản tố.
*/ Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát:
Về tố tụng:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã bảo đảm đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (TTDS). Việc tham gia tố tụng, cung cấp tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71, 72, 91, 96 của Bộ luật TTDS.
Về nội dung vụ án:
Ông T trình bày gia đình ông được xã giao đất giao rừng, đứng tên ông Đ là con trai ông T, nhưng các tài liệu ông T giao nộp không thể hiện biên bản giao nhận đất trên thực địa, vị trí đo vẽ cụ thể và ký giáp danh. Đối với thửa đất tranh chấp, ngày 13/9/1993 đã có Biên bản của UBND xã về việc giải tỏa đất để làm dự án trồng cây ăn quả của Tỉnh ủy; sau đó ông Đ2 và các hộ dân cùng canh tác (ông D2, ông K) không dùng đất này nữa. Phía ông H được giao đất giao rừng sản xuất kinh doanh, thành phần tham gia giao đất có đầy đủ. Ông H đã có trồng tre... ranh giới, đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Khởi kiện của ông T là đại diện hộ gia đình. Thửa đất tranh chấp, chưa giao cho ai sử dụng mà các hộ tự trồng cây, đất do UBND quản lý, các hộ đã nhận đền bù tiền cây, công phát, không có ai khiếu nại gì. Thửa đất ông T đòi không có hồ sơ lưu cấp đất cho ông Đ. Không có căn cứ xác định vị trí thửa 176. Không chứng minh quyền sở hữu/sử dụng của ông Đ, ông T với thửa đất 176.
Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng các điều:
Khoản 2, Khoản 9 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm c, Khoản 1 Điều 39; Điều 157, 158, 164, 165, 166, 185 - Bộ luật TTDS;
Bộ luật TTDS; Điều 2, Luật bảo vệ rừng năm 1991; Điều 1, 2, 13, 20, 24, 72 - Luật đất đai năm 1993;
Điều 3, 4, 5, 13, 14, Nghị định 02 Cp ngày 15/01/1994 của Chính phủ; Điều 6, Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ;
Khoản 3 Điều 155; Điều 221 của Bộ luật dân sự 2015 (về căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản); Điều 4, 17, 26, 31, 37, 236 - Luật đất đai 2024;
Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;
Đề nghị HĐXX không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.
Đối với việc rút yêu cầu phản tố của bị đơn, đề nghị HĐXX đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn.
Về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đề nghị HĐXX tuyên theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-
Về tố tụng:
Đây là tranh chấp quyền sở hữu/sử dụng tài sản (cụ thể là quyền sử dụng đất, ai là người có quyền sử dụng đất) theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật đất đai. Bị đơn và tài sản tranh chấp ở phường D, Tp H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình theo quy định tại Khoản 2, Khoản 9 Điều 26 và Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm c, Khoản 1 Điều 39 - Bộ luật TTDS; Điều 236 của Luật Đất đai 2024.
Về tư cách và quyền khởi kiện của nguyên đơn: ông Nguyễn Văn Đ đứng tên trên Giấy chứng nhận QSD đất, theo ông T trình bày thì việc đứng tên Giấy chứng nhận QSD đất của ông Đ là đứng đại diện cho hộ gia đình ông T, trong đó có ông T. Năm 2019, ông Đ chết, theo nội dung văn bản ủy quyền ngày 25/5/2022, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đã thống nhất ủy quyền cho ông T thay mặt hộ gia đình khởi kiện, thực hiện các thủ tục tố tụng liên quan đến khởi kiện và tham gia tố tụng tại Tòa án. Thỏa thuận ủy quyền khởi kiện của những người thừa kế của ông Đ phù hợp với quy định Điều 74 – Bộ luật tố tụng dân sự.
Thời hiệu khởi kiện, vụ án không tính thời hiệu khởi kiện theo quy định Khoản 3 Điều 155 – Bộ luật dân sự (BLDS) 2015 và Điều 185 - Bộ Luật TTDS.
-
Về nội dung vụ án:
2.1. Về khởi kiện của nguyên đơn:
(1) Xét nguồn gốc, quá trình sử dụng, căn cứ phát sinh quyền tài sản (quyền sở hữu/sử dụng đất) theo ông T khởi kiện:
Đối với hồ sơ giao đất ông T xuất trình, trong Biên bản giao đất làm vườn rừng ngày 15/5/1992, tại UBND xã D thể hiện: đứng tên ông Nguyễn Văn Đ, thành phần gồm có đại diện Hạt Kiểm lâm T, đại diện UBND xã D ông Nguyễn Bá C1, ông Nguyễn Đức D2, chủ hộ được cấp đất làm vườn rừng là ông Nguyễn Văn Đ, thời hạn 50 năm từ năm 1992 đến năm 2042; diện tích 0,50ha. Tuy nhiên tổng diện tích các thửa đất trong giấy chứng nhận chỉ thể hiện là: 4.960m². Trong “Quyết định giao đất, giao rừng” ngày 25/5/1992 của UBND Thị xã H phần diện tích giao đất, giao rừng thể hiện: đất để trồng rừng 5.000m, đất trống khoảnh 4 Lô 13 c-1; đất trồng cây công nghiệp: 1.600m² khoảnh 4 Lô 2-3. Không có lô 176 diện tích 0,1ha. Nhưng trong Giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ 000323 UBND - Thị xã cấp ngày 20/9/1996 lại thể hiện ông Đ được cấp các lô: 13ª, 50, 176, 82, 339, 183. Như vậy là không trùng khớp với bộ hồ sơ đơn xin cấp đất, quyết định giao đất khoán rừng mà ông T nộp kèm theo đơn khởi kiện chứng minh nguồn gốc đất, hồ sơ cấp đất ban đầu. Trong trích lục ở trang 3 của giấy chứng nhận QSD đất thể hiện ông Đ được cấp đất 6 lô ở 6 vị trí cách biệt nhau. Nhưng trên thực tế, tại biên bản lấy lời khai ông T khai rằng: ông T chỉ đang sử dụng hai khu đất, một khu liền thổ ông đang làm trang trại và vợ chồng ông ở luôn đó trồng trọt chăn nuôi và cách biệt chỉ có 1 lô 176 ở vị trí đang tranh chấp với ông H, không có khu đất nào khác nữa. Ông Q con ông T khai: bố mẹ ông sử dụng 3 khu đất rừng, một là ở trang trại bây giờ bố mẹ đang ở, hai là khu có một cái ao gần nhà gốc, ba là khu “Khe Xanh” chỗ ông tranh chấp với ông H - như vậy, thấy rằng việc cấp giấy chứng nhận QSD đất ông Đ có sự không khớp với thực tế dụng đất. Về lô 176 ông T đang đi đòi, đối chiếu các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án thì lô 176 chỉ duy nhất có dữ liệu được ghi trong giấy chứng nhận QSD đất ông Đ mà không có thể hiện bất kỳ dữ liệu nào về lô 176 trong hồ sơ xin giao đất ban đầu, không có biên bản giao đất cụ thể, tứ cận lô 176 trên thực địa. Ông T cũng không nộp được tài liệu, chứng cứ nào có căn cứ pháp lý thể hiện được vị trí lô 176 ông Đ được giao là ở vị trí nào trên thực địa; không có biên bản giao đất giao rừng nào thể hiện việc cơ quan có thẩm quyền, Nhà nước giao cho ông Đ lô 176 tại vị trí đất ông T đang tranh chấp với ông H.
(2) Kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ tại UBND Thành phố H, UBND Phường D, Hạt kiểm lâm, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H, không có hồ sơ giao đất, không có Bản đồ giao đất khoán rừng theo NĐ02 -Cp nên không có đủ căn cứ pháp lý để xác định vị trí thửa đất 176 trên thực địa. Về thủ tục và nội dung giải quyết thu hồi đất và đền bù cho các hộ dân đang canh tác trên đất thời điểm năm 1993; Biên bản hội nghị ngày 11/9/1993 tại UBND xã D có nội dung: Diện tích “Khu Gốc nhãn Suối Lá” nói chung và của ba gia đình nói riêng, địa phương đã có quy hoạch vùng trồng cây ăn quả theo Nghị quyết 02 của Tỉnh ủy. Tại biên bản này cũng ghi nhận nội dung sau khi nghe Chủ tịch UBND xã nêu nội dung vụ việc, các hộ trồng rừng đã có ý kiến: đồng ý việc xã quy hoạch khu vực đó trồng cây ăn quả; kê số cây keo các hộ nhận đất đã tự ý chặt là: ông D2 250 cây bạch đàn, ông T 250 cây keo, ông K 55 cây bạch đàn và các hộ nhất trí nhận đền bù cây + công khai phá có biểu kê ký nhận. Việc ông T cho rằng: Mới nhận đền bù cây + công khai phá mà chưa nhận đền bù đất - HĐXX thấy rằng: không có căn cứ khẳng định việc nhà nước/cơ quan có thẩm quyền giao/cấp đất vườn rừng sản xuất cho ông Đ, ông T tại vị đất mà UBND xã đã giải tỏa theo Biên bản 11/9/1993 và Biên bản đền bù ngày 13/9/1993; đồng thời trong các biên bản này cũng không có dữ liệu nào thể hiện vị trí giải tỏa, đền bù đó là vị trí thực địa của lô 176. Lời khai của ông C1 xác nhận các biên bản này là đúng với diễn biến thực tế. Lời khai của ông D2, ông T3 + ông K xác nhận gia đình hai ông cũng chỉ canh tác tự phát, không có thủ tục giao cấp của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Ông D2 và ông T3 còn khai “đến khoảng năm 2015 thì thấy có hộ bảo mua đất chỗ ấy làm nghĩa địa thì mới biết là đất đã cấp cho ông H, người ta nói cháu ông H đứng ra bán đất nên dân mới bức xúc, ông T mới đi đòi đất”. Ông T và UBND Phường D cũng không có cung cấp cho Tòa án được tài liệu gì thể hiện ông T, ông Đ đi khiếu nại, kiến nghị ngay sau khi nhận đền bù. Như vậy thể hiện Lô 176 trong giấy chứng nhận ông Đ chỉ được ghi trên Giấy chứng nhận QSD đất mà không thể hiện vị trí trên thực địa. Còn thửa đất trên thực địa ông T tranh chấp với ông H là gia đình ông T (Đảm) canh tác tự phát, chưa được cơ quan nhà nước có Thẩm quyền giao, cấp theo thủ tục trình tự Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn Luật đất đai thời điểm đó (1993). Về mặt pháp lý, thửa đất hai bên đang tranh chấp, thời điểm lấy làm dự án trồng cây ăn quả là đang do Nhà nước quản lý (Trực tiếp là UBND xã D quản lý theo phân cấp về quản lý đất đai tại địa phương). Theo quy định mục 5, Điều 72 - Luật đất đai 1993, được coi là “Đất chưa sử dụng”: “Đất chưa sử dụng là đất chưa được xác định để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, lâm nghiệp...và Nhà nước chưa giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào sử dụng ổn định lâu dài”.
(3). Tại phiên tòa ngày 05/8/2024, HĐXX đã tạm ngừng phiên tòa để thu thập thêm tài liệu, chứng cứ; phía đại diện bị đơn cung cấp: Nghị quyết 02/NQ-TU ngày 4/8/1992 “Nghị quyết Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ II về phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp gắn với bảo vệ và phát triển vốn rừng”. Trong đó có các nội dung cơ bản là chủ trương thâm canh trồng cây ăn quả, quy hoạch tổng thể diện tích trồng cây ăn quả, cây công nghiệp. Về trách nhiệm các cấp ngành, Nghị quyết thể hiện: Cấp ủy các cấp là người lãnh đạo và kiểm tra thực hiện Nghị quyết; UBND các cấp là người quản lý, điều hành chỉ đạo thực hiện Nghị quyết. Nghị quyết này được phổ biến đến các Chi bộ cơ sở và có kế hoạch lãnh đạo thực hiện Nghị quyết. Như vậy, xét về chủ trương quy hoạch vùng đất trồng cây ăn quả tại địa phương xã D, nay là Phường D, TP H là có thực. Đã được UBND xã D triển khai tới hộ dân; việc thực hiện giải tỏa để trồng cây ăn quả theo dự án thể hiện trong NQ 02 /NQ-TU là chủ chương chung. Do là đất chưa sử dụng đang do UBND xã D quản lý nên việc giải tỏa, đền bù cây cối hoa màu cho các hộ dân chỉ thể hiện thông qua việc phổ biến, triển khai chủ trương, ghi nhận bằng các biên bản. Xét về quyền lợi của ông T cũng như các hộ dân khác cùng canh tác tự phát tại vị trí quy hoạch đó đã được giải quyết xong thể hiện tại các biên bản họp, biên bản đền bù năm 1993 như đã viện dẫn; các hộ dân trong đó có ông T đã nhận đền bù cam kết nhất trí. Các tài liệu lưu trữ cũng thể hiện qua biên bản Hội nghị, biên bản đền bù thời điểm 1993, khi triển khai dự án trồng cây ăn quả, ông T, cũng như các hộ dân đang canh tác tự phát ở đó cũng không có ai có đơn hay bày tỏ ý chí nguyện vọng là muốn nhận đất tham gia vào dự án trồng cây ăn quả. Ông D2, ông T3, ông K có lời khai thể hiện: xã có trồng cây ăn quả nhưng không hiệu quả nên thôi. Ông T cho rằng xã lấy đất để thực hiện dự án trồng cây ăn quả thì ông nhất trí nhưng giao cho ông H thì ông T không nhất trí. Việc quy hoạch sử dụng đất, giao đất cho cá nhân, tổ chức sử dụng là thuộc thẩm quyền của cơ quan có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của ông T là phải giao cho ai.
(4). Ông T có nộp 01 bản phô tô “Trích lục Bản đồ giao đất khoán rừng” xin chuyển đổi sang rừng phòng hộ xã D, Thị xã H nhưng không có ngày tháng năm, không có dấu xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về nguồn gốc tài liệu. UBND Phường D cũng chỉ cung cấp được bản phô tô tương tự và bản phô tô Biểu tổng hợp giao đất, giao rừng và khoán rừng năm 1995 có thể hiện tên ông Đ lô đất 176 khoảnh 3, số thứ tự 29 ngoài ra không có hồ sơ lưu thể hiện việc cấp đất lô 176 khoảnh 3 cho ông Đ theo trình tự, thủ tục như thế nào. Trong quá trình giải quyết vụ án, TAND Thành phố Hòa Bình đã yêu cầu cơ quan quản lý đất đai địa phương, cơ quan chuyên môn xác định vị trí thửa đất 176. Tuy nhiên do các hồ sơ tài liệu lưu trữ không còn lưu trữ được Bản đồ giao đất, giao rừng theo NĐ 02 Cp nên không có căn cứ để xác định vị trí thực địa của thửa đất 176 ông T đang khởi kiện. Ông T cũng không cung cấp được chứng cứ phù hợp, từ đó không có căn cứ chứng minh thửa đất 176 - Giấy chứng nhận QSD đất ông Đ có vị trí trùng vào thửa đất thu về từ ông Đ, ông K, ông D2 thể hiện trong Biên bản Hội nghị ngày 11/9/1993 + Biên bản đền bù ngày 13/9/1993 và trùng vào thửa đất cấp giấy chứng nhận QSD đất ông H. Trên thực tế, ông T sau khi nhận đền bù cây cối hoa màu và công khai phá, cam kết không sử dụng vào đất đó nữa, ông T đã thoát ly khỏi quyền sở hữu tài sản và không còn sử dụng khu đất đã nhận đền bù kể từ ngày 13/9/1993; phía ông H đã trồng tre bương luồng bao viền mốc giới quản lý liên tục từ năm 1993 cho đến nay không có tranh chấp với hộ liền kề khác. Theo Quyết định 672 của Chính phủ, 25/6/2012, ông H đã được UBND Thành phố H cấp Giấy chứng nhận QSD đất BL531152, số vào sổ: CH00183. Tại phiên tòa ông T khai gia đình ông không phải kê khai, làm đơn xin cấp giấy chứng nhận QSD đất gì mà do chủ trương chung xã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSD đất cho gia đình ông, các hộ khác trong xã cũng đều thế.
(5) Đối chiếu quy định của pháp luật;
Luật đất đai năm 1993, Điều 1 quy định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước giao đất cho ... hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài...
Điều 2 quy định:
“1- Người sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
2- Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước...”
Điều 13, nội dung quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm:
2- Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất;
3- Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó;
4- Giao đất...
5- ... Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
Điều 20 quy định: “Nhà nước giao đất cho...cá nhân sử dụng ổn định lâu dài...”
Điều 24, “Thẩm quyền giao đất để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp được quy định như sau: 2 - UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giao đất cho các hộ gia đình và cá nhân”.
Điều 72 quy định: “Đất chưa sử dụng là đất ... chưa được xác định để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, lâm nghiệp... và Nhà nước chưa giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào sử dụng ổn định lâu dài”.
Nghị định 02 Cp ngày 15/01/1994 của Chính phủ;
Điều 4 - Căn cứ để giao đất lâm nghiệp:
2. Qui hoạch đất lâm nghiệp, qui hoạch rừng các loại của từng địa phương đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt;
3. Nhu cầu, khả năng sử dụng đất lâm nghiệp...đơn xin giao đất lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú xác nhận.
Điều 5 - Đối tượng được giao đất lâm nghiệp:....“3. Cá nhân”
Điều 13 - Hồ sơ giao đất lâm nghiệp gồm có:
1. Đơn xin giao đất lâm nghiệp;
3. Bản đồ ... Trên bản đồ phải thể hiện rõ các mốc đánh dấu về diện tích được giao;
4. Quyết định giao đất lâm nghiệp của cấp có thẩm quyền;
5. Biên bản giao, nhận đất lâm nghiệp tại hiện trường”
Điều 14. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp qui định như sau:
1. Điều kiện cấp giấy sử dụng đất:
a) Có bản đồ địa chính hoặc sơ đồ địa chính tổng quát;
b) Đất được giao phải được cắm mốc trên thực địa, đánh dấu vị trí trên bản đồ và tính được diện tích.
Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ:
Điều 6. Giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân.
1. Hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao đất lâm nghiệp theo Nghị định số02/CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ được tiếp tục sử đụng ổn định lâu dài và được cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất.
Luật bảo vệ rừng 1991, tại Điều 2 quy định: Nhà nước thống nhất quản lý rừng và đất trồng rừng. Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức, cá nhân - dưới đây gọi là chủ rừng - để bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng ổn định, lâu dài theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước.
Điều 221 - BLDS 2015 có quy định rõ về căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản.
Luật Đất đai 2024, Điều 4 quy định về người sử dụng đất:
“Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất”; Điều 17. Bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất:
“1. Nhà nước bảo hộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người sử dụng đất.
2. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước...”.
Điều 26. Quyền chung của người sử dụng đất
“1. Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai...5. Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình”.
Điều 31. Nghĩa vụ chung của người sử dụng đất
2. Thực hiện kê khai đăng ký đất đai;
Điều 37. Quyền và nghĩa vụ của cá nhân sử dụng đất
“1. Cá nhân...được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất...thì có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 26 và Điều 31 luật này;
Quyền sử dụng đất đối với thửa đất lô 176, tờ bản đồ 3 xã D theo khởi kiện của ông T không đáp ứng các nội dung quy định của điều luật nêu trên về căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản, về thủ tục, trình tự giao đất, cấp giấy chứng nhận QSD đất. Các tài liệu, chứng cứ ông T xuất trình và do Tòa án thu thập được cũng không có tài liệu, chứng cứ khách quan nào chứng minh được việc cơ quan có thẩm quyền giao cho gia đình ông Đ (ông T) lô đất 176 tại vị trí đất ông T đang tranh chấp với ông H. Trên giấy chứng nhận QSD đất của ông Đ có ghi Lô 176 là không phù hợp với đơn xin cấp đất, quyết định giao đất, biên bản giao đất và chủ sử dụng đất trên thực tế. Kết quả cung cấp chứng cứ Văn phòng Đ: không có hồ sơ cấp giấy chứng nhận đất ông Đ và ông H (BL 132). Tuy nhiên ông H có hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSD đất đầy đủ (BL từ 79 đến 86a) và là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất liên tục, ổn định trên thực địa từ năm 1993 cho đến nay không có tranh chấp với bất cứ hộ liền kề nào. Ý kiến của đại diện bị đơn tại phiên tòa cho rằng việc ông H sử dụng đất hợp pháp theo giấy chứng nhận QSD đất đã được cấp là phù hợp. Điều 91 – Bộ luật TTDS cũng quy định rõ: “1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp...4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
Từ những nội dung đánh giá, phân tích như nêu trên, HĐXX thấy không có căn cứ để được chấp nhận nội dung khởi kiện của ông T về việc: yêu cầu ông H phải trả cho ông T lô đất 176 khoảnh 3 - Giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ 000323 UBND Thị xã H cấp tên ông Nguyễn Văn Đ ngày 20/9/1996.
Đối với yêu cầu của ông T về việc đòi số tiền bồi thường chi phí đi kiện, tiền in ấn tài liệu, phí đi lại; tiền không được sử dụng đất từ năm 1993 đến nay – HĐXX thấy cũng không có căn cứ pháp lý để chấp nhận. Việc ông T đòi phía ông H bồi thường lại tiền chi phí tố tụng ông T đã phải nộp trong quá trình đi kiện trước đây (những lần Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án trước đây), không thuộc phạm vi giải quyết trong vụ án này.
Về án phí, chi phí tố tụng:
Án phí dân sự sơ thẩm (DSST): Ông T là những người cao tuổi, có đơn xin miễn áp phí DSST phù hợp quy định Điểm đ Khoản 1 Điều 12; Điều 14, Điều 15 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án nên cần chấp nhận cho các ông T được miễn án phí DSST. Về chi phí tố tụng: ông T đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng: ngày 25/11/2022, ông T nộp: 1.500.000 đồng (BL số 104) chi phí xem xét thẩm định; ngày 06/9/2023, ông T nộp: 5.800.000 đồng (BL số 143) tiền trả chi phí đo đạc, trích đo theo thông báo của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H; ngày 06/9/2023, ông T nộp 1.200.000 đồng (BL 147) Chi phí định giá tài sản. Tổng tạm ứng chi phí tố tụng là: 8.500.000 đồng, đã chi phí hết: 7.649.336 đồng; còn lại số tiền 850.664 đồng Tòa án đã trả lại cho ông T (BL số 172). Do yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu chi phí tố tụng và được đối trừ vào tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp là phù hợp với quy định Khoản 1 Điều 157 của Bộ luật TTDS. Ông T không phải nộp thêm.
Quyền kháng cáo cần tuyên theo quy định Điều 271, 273 của Bộ luật TTDS.
Vì các lẽ trên; Hội đồng xét xử căn cứ:
Khoản 2, Khoản 9 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm c, Khoản 1 Điều 39; Điều 74, 157, 158, 164, 165, 166, 185 - Bộ luật TTDS;
Điều 2, Luật bảo vệ rừng năm 1991; Điều 1, 2, 13, 20, 24, 72 - Luật đất đai năm 1993; Điều 3, 4, 5, 13, 14, Nghị định 02 Cp ngày 15/01/1994 của Chính phủ; Điều 6, Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ.
Khoản 3 Điều 155; Điều 221 - BLDS 2015 về căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản;
Điều 4, 17, 26, 31, 37, 236 - Luật đất đai 2024;
Khoản 1,4 Điều 91; Khoản 1 Điều 157, 158, 164, 165, 166, 244 - Bộ luật TTDS;
Điều 264, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật TTDS;
Điểm đ Khoản 1 Điều 12; Điều 14, Điều 15 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc: Yêu cầu Tòa án buộc ông Quách Thế H phải trả lại lô đất 176, diện tích đất 1000m² (0,10ha) tại xóm M, xã D, thị xã H cũ, nay là Tổ A, Phường D, TP H, tỉnh Hòa Bình và yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông H phải bồi thường đền bù số tiền: Tổng là: 191.700.000 đồng
-
Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn ông Quách Thế H.
-
Về án phí DSST, chi phí tố tụng:
Về án phí DSST:
nguyên đơn ông T được miễn án phí DSST.
Về chi phí tố tụng:
Nguyên đơn ông T phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là: 7.649.336 đồng. Đối trừ vào tạm ứng đã nộp, nay không phải nộp nữa. Ông T đã nhận đủ tạm ứng chi phí tố tụng còn thừa.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên TAND tỉnh Hòa Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo tương tự về những nội dung trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình và thời hạn kháng cáo được tính từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh HB; - VKSND Tp Hòa Bình; - VKSND tỉnh HB; - Nguyên đơn, bị đơn; Người có QLNVLQ; - Chi cục THADS Tp Hòa Bình; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đinh Lan Hương (đã ký) |
Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp tài sản - qsd đất
- Số bản án: 09/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp tài sản - QSD đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
