Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÁNH LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 09/2025/DS-ST

Ngày: 18 - 3 - 2025

“Về việc tranh chấp về hụi”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Quang Thanh.

2. Bà Đinh Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 229/2024/TLST-DS, ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hụi”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Thông báo tiếp tục phiên tòa số 01/2025/TB-TA ngày 06 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Thu H, sinh năm 1981; nơi cư trú: thôn A, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận;

2. Bị đơn: Bà Bùi Kim C, sinh năm 1980 và ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1980; Cùng nơi cư trú: khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận;

(Tại phiên tòa, các đương sự đều vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện và lời khai đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn nguyên đơn bà Đỗ Thị Thu H trình bày:

Bị đơn bà Bùi Kim C là con hụi trong tổ hụi mà chị Đỗ Thị Thu H làm chủ hụi. Thời gian từ tháng 04/2022 đến tháng 01/2023 âm lịch, bà C đã hốt 03 chân hụi 3.000.000đồng do bà H làm chủ. Các bên thỏa thuận sau khi hốt hụi bà C phải có nghĩa vụ đóng đủ số chân hụi đã hốt (hụi chết) hàng tháng cho bà H nhưng bà C đã không thực hiện theo thỏa thuận, cụ thể:

Dây hụi 3.000.000đồng thứ nhất: Xổ từ ngày 10/4/2022 âm lịch đến ngày 10/12/2023 (trong tờ giấy ghi đến ngày 10/01/2024 do năm 2023 nhuận 2 tháng 2); gồm 22 chân hụi, trong đó bà C tham gia hai chân hụi, một chân hụi bà C hốt tháng 04/2022 âm lịch, một chân Bà C hốt tháng 07/2022 âm lịch. Cả hai chân hụi này bà C còn 11 tháng hụi chết chưa đóng tương ứng: 11 x 2 x 3.000.000đồng = 66.000.000đồng; Dây hụi 3.000.000đồng thứ hai: Xổ từ ngày 10/06/2022 âm lịch đến ngày 10/01/2024 âm lịch, gồm 21 chân hụi, trong đó chị C có 01 chân, chị C hốt tháng 01/2023 âm lịch, bà C còn 12 tháng hụi chết chưa đóng tương ứng: 12 x 3.000.000đồng = 36.000.000đồng; Tổng số hụi chết bà C chưa đóng cho bà H là 102.000.000đồng. Bà H yêu cầu chị Bùi Kim C và ông Nguyễn Ngọc T phải có trách nhiệm liên đới trả cho tôi số tiền hụi chết là 102.000.000đồng (một trăm lẻ hai triệu đồng).

[2]. Theo lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, bị đơn bà Bùi Kim C và ông Nguyễn Ngọc T trình bày:

Trong khoảng thời gian tháng 04/2022 âm lịch đến 01/2024 âm lịch, bà C có tham gia 3 chân hụi trong tổ hụi mà bà H làm chủ hụi, bà C đã hốt hụi, bà H đã giao tiền hụi cho bà C. Mục đích việc chơi hụi giữa bà C và bà H là để bà C trang trãi cuộc sống gia đình hằng ngày, phát triển kinh tế gia đình. Bà C có nghĩa vụ đóng hụi chết cho bà H hàng tháng 9.000.000đồng cho đến tháng 01/2024 âm lịch. Bà C đã thanh toán cho bà H một số tháng hụi chết, tính đến hiện nay còn nợ lại tổng số tiền hụi chết là 102.000.000đồng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà H thì bà C xác định hiện nay bà C còn nợ lại bà H số tiền 102.000.000đồng tiền hụi chết, bà C đồng ý trả cho bà H. Việc chơi hụi giữa bà C và bà H, bà C đều giấu chồng là ông T, ông T hoàn toàn không biết cũng không nhận tiền gì từ bà H. Vì thế, bà C và ông T yêu cầu không đưa ông T vào tham gia tố tụng, cá nhân bà C chịu trách nhiệm trả tiền nợ hụi cho bà H. Ngoài ra, bà C và ông T không có yêu cầu gì thêm, cũng không trình bày ý kiến gì thêm.

[3]. Tình tiết sự kiện được các bên đương sự thống nhất:

Nguyên đơn bà Đỗ Thị Thu H và bị đơn bà Bùi Thị Kim C đều thừa nhận quá trình tham gia việc chơi hụi từ tháng 04/2022 âm lịch cho đến tháng 01/2024 âm lịch, bà C còn nợ bà H 102.000.000đồng tiền hụi chết.

[4]. Tình tiết sự kiện các bên đương sự không thống nhất:

Ông Nguyễn Ngọc T không đồng ý liên đới cùng bà Bùi Kim Chi T1 số tiền 102.000.000đồng tiền hụi cho bà Đỗ Thị H.

[5]. Các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:

  • - Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 03 bản chính “GIẤY GIAO, NHẬN TIỀN GÓP VỐN” đề các ngày 19/5/2022, 09/2/2023, 15/8/2022, đều có chữ ký của chị Bùi Kim C.
  • - Bà Bùi Kim C và ông Nguyễn Ngọc T không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.

[6]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:

  • - Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Thu H. Buộc bà Bùi Kim C và ông Nguyễn Ngọc T phải có nghĩa vụ trả liên đới cho bà Đỗ Thị Thu H số tiền là 102.000.000đồng;
  • - Buộc bà Bùi Kim C và ông Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án; hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà Đỗ Thị Thu H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Trong vụ án, chỉ có yêu cầu của nguyên đơn bà Đỗ Thị Thu H, yêu cầu giải quyết buộc bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên là bà Bùi Kim C1 và ông Nguyễn Ngọc T phải trả tiền nợ nụi; Ngoài ra, vụ án không có yêu cầu nào khác của đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Tranh chấp dân sự quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; các đương sự đều có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tổ tung:

Tại phiên tòa hôm nay, bà Đỗ Thị Thu H; bà Bùi Kim C, ông Nguyễn Ngọc T vắng mặt nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1]. Về yêu cầu chị Bùi Kim C và anh Nguyễn Ngọc T có trách nhiệm liên đới trả 102.000.000đồng tiền hụi của nguyên đơn chị Đỗ Thị Thu H, Hội đồng xét xử nhận định:

Trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Đỗ Thị Thu H và bị đơn bà Bùi Thị Kim C đều thừa nhận quá trình tham gia việc chơi hụi từ tháng 04/2022 âm lịch cho đến tháng 01/2024 âm lịch, bà C còn nợ bà H 102.000.000đồng tiền hụi chết chưa đóng cho bà H. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà H đối với bà C là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự.

Về nghĩa vụ liên đới trả nợ hụi: Thể hiện tại các biên bản lấy lời khai của bà C trong quá trình tố tụng bà C thừa nhận sử dụng tiền chơi hụi vào mục đích gia đình; việc chơi hụi giữa bà C và bà H ông T không biết, không tham gia, không nhận tiền của bà H nên bà C tự chịu trách nhiệm trả nợ cho bà H. Tuy nhiên xét thấy bà C xác lập giao dịch hụi với H trong thời kỳ hôn nhân nên bà H yêu cầu ông T có nghĩa vụ liên đới với bà Chi trả tiền hụi cho bà H là có căn cứ cứ chấp nhận, phù hợp với Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Từ những phân tích nêu trên cần buộc vợ chồng bà Bùi Kim C và ông Nguyễn Ngọc T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đỗ Thị Thu H số tiền là 102.000.000đồng.

[3.2]. Về án phí: Do yêu cầu của bà H được chấp nhận toàn bộ nên căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 3 Điều 144 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: cần xử buộc bà Bùi Kim C và ông Nguyễn Ngọc T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm; đồng thời hoàn trả lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp cho bà Đỗ Thị Thu H.

[4]. Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh về việc đề nghị giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, các Điều 92, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 357, Điều 468 và 471 của Bộ luật dân sự 2015;
  • - Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về họ, hụi, biêu, phường;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Thu H:

- Buộc bà Bùi Kim C và ông Nguyễn Ngọc T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đỗ Thị Thu H 102.000.000đồng (một trăm lẻ hai triệu đồng) tiền nợ hụi.

2. Về án phí:

- Buộc bà Bùi Kim C và ông Nguyễn Ngọc T phải có nghĩa vụ liên đới chịu 5.100.000đồng (Năm triệu một trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn trả trả lại cho bà Đỗ Thị Thu H 2.550.000đồng (Hai triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006213, ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

3. Về nghĩa vụ thi hành án:

- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai. Các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tánh Linh;
  • - Các đương sự;
  • - CC THADS h.Tánh Linh;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về hụi

  • Số bản án: 09/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hụi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger