Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/DS-ST

Ngày 13-6-2025

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • -Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức- Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Gia Khải; Bà Phạm Thị Loan.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 03/2025/TLST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QĐHPT-ST ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn:

  1. Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1).

    Địa chỉ: Số H, L, phường L, quận Đ, TP Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch HĐQT.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng B – Trưởng phòng xử lý nợ.

    Người được ủy quyền lại: Ông Phạm Tất T –Chuyên viên xử lý nợ.

  2. Công ty cổ phần M.

    Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, Thành Phố H.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T1 - Giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Duy T2 - Trưởng phòng xử lý nợ.

    Người được ủy quyền lại: Ông Đào Duy H, Bà Nguyễn Thị Vân A - Chuyên viên xử lý nợ.

-Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1984.

Chị Vũ Thị C1, sinh năm 1985.

Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện được bổ sung bằng biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa- đại diện nguyên đơn trình bày:

-Đại diện ngân hàng V (V1) trình bày: Anh Nguyễn Văn C và chị Vũ Thị C1 là vợ chồng, anh C chị C1 đã ký hợp đồng vay vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1) như sau:

  • +Hợp đồng số 01: Ngày 18/5/2022 anh C chị C1 đã ký hợp đồng vay vốn và khế ước nhận nợ kèm theo vay số tiền 273.000.000đồng, thời hạn vay 84 tháng, mục đích vay về mua xe Sơ ri rơ mooc về kinh doanh. Lãi xuất trong hạn tại thời điểm giải ngân 10%/năm được tính trong 12 tháng, hết thời hạn cố định được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/1 lần được tính từ ngày điều chỉnh lãi xuất đầu tiên. Mức lãi xuất điều chỉnh được xác định bằng lãi xuất cơ sở, biên độ 4,25%/năm. Lãi xuất quá hạn bằng 150% mức lãi xuất cho vay. Lãi xuất chậm trả áp dụng với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi xuất cho vay trong hạn nhưng không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả.
  • +Hợp đồng số 02: Ngày 23/4/2022 anh C chị C1 đã ký hợp đồng vay vốn số tiền 967.000.000đồng, thời hạn vay 84 tháng, mục đích vay về mua xe đầu kéo về kinh doanh vật liệu xây dựng. Lãi xuất trong hạn tại thời điểm giải ngân 10,25%/năm được tính trong 12 tháng, hết thời hạn cố định được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/1 lần được tính từ ngày điều chỉnh lãi xuất đầu tiên. Mức lãi xuất điều chỉnh được xác định bằng lãi xuất cơ sở, biên độ 4,25%/năm. Lãi xuất quá hạn bằng 150% mức lãi xuất cho vay. Lãi xuất chậm trả áp dụng với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi xuất cho vay trong hạn nhưng không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả.
  • +Hợp đồng số 03: Ngày 27/11/2023 anh C chị C1 đã ký hợp đồng vay vốn và khế ước nhận nợ kèm theo vay số tiền 3.535.000.000đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay về bổ sung kinh doanh vật liệu xây dựng. Lãi xuất trong hạn tại thời điểm giải ngân 7,49%/năm được tính trong 03 tháng, hết thời hạn cố định được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/1 lần được tính từ ngày điều chỉnh lãi xuất đầu tiên. Mức lãi xuất điều chỉnh được xác định bằng lãi xuất cơ sở, biên độ 4%/năm. Lãi xuất quá hạn bằng 150% mức lãi xuất cho vay. Lãi xuất chậm trả áp dụng với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi xuất cho vay trong hạn nhưng không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả.
  • +Hợp đồng số 04: Ngày 23/3/2022 anh C chị C1 ký giấy đề nghị vay vốn có tài sản đảm bảo giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán với hạn mức thẻ tín dụng là 20.000.000đồng, mục đích về phục vụ tiêu dùng. Lãi xuất theo quy định của V1 từng thời kỳ.
  • +Tài sản bảo đảm các khoản vay là:
    • *01 xe ô tô nhãn hiệu CNHTC, biển kiểm soát 17H-012.84
    • *01 xe ô tô nhãn hiệu Fushi, biển kiểm soát 17R-009-34
    • *01 xe ô tô nhãn hiệu HODA, số lại CR-VL, biển kiểm soát 17A-315.63.
    • *Quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 53; tờ bản đồ số 19; địa chỉ thửa đất: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

Quá trình thực hiện Hợp đồng anh C chị C1 đã trã được 415.327.707 đồng tiền nợ gốc và đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V1 kể từ ngày 15/8/2024 mặc dù V1 đã đôn đốc nhưng anh C chị C1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V1 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Tính đến ngày 22/9/2024 anh C chị C1 còn nợ V1: Nợ gốc 4.379.672.293đồng; Nợ lãi: 96.489.958đồng; Nợ thẻ tín dụng 10.125.497đồng. Trong quá trình đôn đốc thực hiện nghĩa vụ trả nợ anh C chị C1 đã trả được một phần nợ gốc. Số nợ gốc còn lại phải trả là 4.344.608.352đồng.

Sau khi V1 khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, ngày 28/3/2024 V1 đã ký hợp đồng chuyển quyền bán một phần khoản nợ cho Công ty Cổ phần M bao gồm nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn cụ thể như sau: 95% hợp đồng số 01, số 02, số 03 và 100% hợp đồng số 04.

-Đại diện Công ty cổ phần M trình bày: Công ty cổ phần M xác nhận lời trình bày của đại diện ngân hàng V về hợp đồng mua bán khoản nợ của 04 hợp đồng tín dụng đối với anh C chị C1. Theo đó Công ty cổ phần M mua lại 95% của nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn thể hiện tại hợp đồng mua bán nợ số 03/2025 và Hợp đồng chuyển nhượng số 04/2025 ngày 28/3/2025 và phụ lục kèm theo theo quy định tại Điều 365 Bộ luật dân sự về chuyển giao quyền yêu cầu.

Tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn số nợ gốc và nợ lãi, lãi chậm trả tính ngày 23/6/2025 tổng là 5.062.883.798 đồng trong đó nợ gốc là 4.344.608.352 đồng, nợ lãi là 686.858.803 đồng, lãi chậm trả 31.416.643 đồng (trả cho Công ty cổ phần M 4.810.383.854 đồng gồm: nợ gốc 4.127.842.129đồng, nợ lãi 652.696.914 đồng, lãi chậm trả 29.845.811đồng; Trả cho V1 252.498.944 đồng gồm nợ gốc 216.766.223đồng, nợ lãi 34.161.889 đồng, nợ lãi chậm trả 1.570.832 đồng). Và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 14/6/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ hợp đồng. Đề nghị Tòa án tuyên trong bản án trong trường hợp bị đơn không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để trừ vào nghĩa vụ trả nợ.

Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn C và chị Vũ Thị C1: Trong quá trình tố tụng Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh C, chị C1 lên Tòa án để giải quyết vụ kiện nhưng anh C, chị C1 vắng mặt trong quá trình tố tụng, vì vậy Tòa án không lấy được lời khai của anh C, chị C1, không tiến hành hòa giải được giữa các bên. Tại phiên tòa lần 1 và lần 2 anh C, chị C1 vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa lần 1 và lần 2, như vậy bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 117; 119; 323; 365; 463; 466; 468 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc anh C, chị C1 phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ số tiền nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng mà anh anh C, chị C1 đã ký kết đối với Ngân hàng V1 và Công ty cổ phần M tính đến ngày xét xử sơ thẩm tổng số tiền cụ thể như sau: trả cho Công ty cổ phần M 4.810.383.854 đồng, gồm: nợ gốc 4.127.842.129đồng, nợ lãi 652.696.914đồng, lãi chậm trả 29.845.811đồng; Trả cho V1 252.498.944đồng, gồm nợ gốc 216.766.223đồng, nợ lãi 34.161.889đồng, nợ lãi chậm trả 1.570.832đồng. Đề nghị Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên kể từ ngày 14/6/2025 cho đến ngày anh C, chị C1 thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp anh C chị C1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ, thì Công ty cổ phần M và Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, vì vậy trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn có nơi cư trú tại thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Áp dụng pháp luật giải quyết: Hợp đồng cấp tín dụng giữa Ngân hàng V1 và anh C, chị C1 được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Ngày 28/3/2025 V1 đã bán 95% khoản nợ của hợp đồng tín dụng cho Công ty cổ phần M theo hợp đồng mua bán nợ và hợp đồng chuyển nhượng giữa hai bên đã ký kết là phù hợp quy định của pháp luật. Vì vậy căn cứ vào các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.

[3] Về nội dung:

[3.1].Về yêu cầu trả nợ gốc: Căn cứ vào lời khai nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp thể hiện anh C chị C1 đã ký 04 hợp đồng tín dụng với ngân hàng V1 cụ thể như sau:

  • +Hợp đồng cho vay số LN2205065708891 ký ngày 18/5/2022 và khế ước nhận nợ kèm theo vay số tiền 273.000.000đồng, thời hạn vay 84 tháng, mục đích vay về mua xe Sơ ri rơ mooc về kinh doanh. Lãi xuất trong hạn tại thời điểm giải ngân 10%/năm được tính trong 12 tháng, hết thời hạn cố định được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/1 lần được tính từ ngày điều chỉnh lãi xuất đầu tiên. Mức lãi xuất điều chỉnh được xác định bằng lãi xuất cơ sở, biên độ 4,25%/năm. Lãi xuất quá hạn bằng 150% mức lãi xuất cho vay. Lãi xuất chậm trả áp dụng với tiền lãi chậm trả bằng 150% lã xuất cho vay trong hạn nhưng không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả.
  • +Hợp đồng cho vay số LN22032435719 ký ngày 23/4/2022 và khế ước nhận nợ kèm theo vay số tiền 967.000.000đồng, thời hạn vay 84 tháng, mục đích vay về mua xe đầu kéo về kinh doanh vật liệu xây dựng. Lãi xuất trong hạn, lãi xuất quá hạn và lãi xuất chậm trả áp dụng tương tự như hợp đồng ngày 18/5/2022.
  • +Hợp đồng cho vay số 10082627 ký ngày 27/11/2023 và khế ước nhận nợ kèm theo vay số tiền 3.535.000.000đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay về bổ sung kinh doanh vật liệu xây dựng. Lãi xuất trong hạn tại thời điểm giải ngân 7,49%/năm được tính trong 03 tháng, hết thời hạn cố định được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/1 lần được tính từ ngày điều chỉnh lãi xuất đầu tiên. Mức lãi xuất điều chỉnh được xác định bằng lãi xuất cơ sở, biên độ 4%/năm. Lãi xuất quá hạn bằng 150% mức lãi xuất cho vay. Lãi xuất chậm trả áp dụng với tiền lãi chậm trả bằng 150% lã xuất cho vay trong hạn nhưng không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả.
  • +Ngày 23/3/2022 anh C chị C1 ký giấy đề nghị vay vốn có tài sản đảm bảo giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán với hạn mức thẻ tín dụng là 20.000.000đồng, mục đích về phục vụ tiêu dùng. Lãi xuất theo quy định của V1 từng thời kỳ.

[3.2].Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng anh C, chị C1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và trả nợ lãi trong đó đã trả nợ gốc 450.391.648 đồng. Thời điểm ngày 15/8/2024 anh C, chị C1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V1, vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký giữa hai bên. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc nhưng anh C, chị C1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, anh C, chị C1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã thỏa thuận ký kết trước đó với Ngân hàng V1. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V1 ra Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ yêu cầu anh C, chị C1 phải trả số tiền gốc còn nợ là 4.344.608.352 đồng là có căn cứ, cần chấp nhận là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3.3].Về yêu cầu trả nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả: Theo các Hợp đồng tín dụng trên, ngày 15/8/2024 anh C, chị C1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy kể từ ngày 15/8/2024 khoản vay của anh C, chị C1 với Ngân hàng đã tính lãi xuất quá hạn kể từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nay phía Ngân hàng yêu cầu anh C, chị C1 phải trả tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả của khoản nợ gốc còn nợ nêu trên là có căn cứ, cần chấp nhận là phù hợp với quy định của pháp luật. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 13/6/2025 gồm nợ lãi 686.858.803 đồng; nợ lãi chậm trả 31.416.643đồng. Anh C, chị C1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cấp tín dụng, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật kể từ ngày 14/6/2025 cho đến khi trả hết số tiền còn nợ Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật.

3.4.Về tài sản bảo đảm cho khoản vay: Để bảo đảm cho khoản vay cho các hợp đồng tín dụng, anh C, chị C1 đã thế chấp tài sản bảo đảm là một xe ô tô nhãn hiệu PUSHI, biển kiểm soát 17R-009.34; một 01 xe ô tô nhãn hiệu HODA, số lại CR-VL, biển kiểm soát 17A-315.63; một xe ô tô nhãn hiệu CNHTC, biển kiểm soát 17H-012.84; Quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 53, tờ bản đồ số 19, địa chỉ thửa đất: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình mang tên chủ sử dụng anh C chị C1. Tại nội dung hợp đồng thế chấp đều quy định rõ tài sản thế chấp bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của các hợp đồng tín dụng. Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất số 53, tờ bản đồ số 19, diện tích 100m2 địa chỉ thửa đất: Thôn B, xã Q thể hiện các hộ liền kề không có tranh chấp về ranh giới với thửa đất, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất vẫn giữ nguyên hiện trạng.

Xét thấy các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 2958 ngày 12/7/2023 và hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN 220506570891 ngày 18/5/20222; hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN 2203245435719 ngày 23/4/2022; hợp đồng thế chấp xe ô tô số 10082627 ngày 22/11/2023 được ký kết đúng thủ tục và được đăng ký giao dịch bảo đảm nên phát sinh hiệu lực. V1 yêu cầu trường hợp anh C, chị C1 không có khả năng trả nợ cho V1 thì V1 yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để trừ vào nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ, cần chấp nhận là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về hợp đồng mua bán nợ giữa V1 và Công ty cổ phần M: Ngày 10/4/2025 Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ nhận đơn khởi kiện bổ sung theo Công văn số 1677/CV-MARS ngày 09/4/2025 của Công ty cổ phần M và Hợp đồng mua bán nợ số 03/2025 và Hợp đồng chuyển nhượng số 04 ngày 28/3/2025. Nội dung thể hiện V1 bán cho Công ty cổ phần M 95% khoản nợ của anh C chị C1 đối với V1 (95% hợp đồng số 01, số 02, số 03 và 100% hợp đồng số 04, gồm nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn). Xét thấy về hình thức và nội dung của Hợp đồng mua bán nợ là phù hợp quy định của pháp luật, vì vậy Tòa án nhân dân huyện quỳnh Phụ đã ra thông báo đưa Công ty cổ phần M vào tham gia tố tụng với tư cách là đồng nguyên đơn. Vì vậy cần buộc anh C, chị C1 có nghĩa vụ trả khoản nợ nêu trên cho đồng nguyên đơn là V1 và Công ty cổ phần M theo quy định.

[5] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp. Anh C, chị C1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 119, Điều 323, Điều 365, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng V (V1) và Công ty cổ phần M.
  2. Buộc anh Nguyễn Văn C và chị Vũ Thị C1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1) và Công ty cổ phần M tổng số tiền là: 5.062.883.798 đồng, gồm nợ gốc là 4.344.608.352 đồng, nợ lãi là 686.858.803 đồng, lãi chậm trả 31.416.643 đồng (tính đến ngày 13/6/2025)

    Kỷ phần như sau: Trả Công ty cổ phần M 4.810.383.854 đồng (gồm: nợ gốc 4.127.842.129đồng, nợ lãi 652.696.914 đồng, lãi chậm trả 29.845.811đồng). Trả cho V1 252.498.944 đồng (gồm nợ gốc 216.766.223đồng, nợ lãi 34.161.889 đồng, nợ lãi chậm trả 1.570.832 đồng)

    Kể từ ngày 14/6/2025 anh C chị C1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cấp tín dụng, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

    Trường hợp trong Hợp đồng cấp tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng V1 thì lãi suất mà anh C chị C1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng V1 và Công ty cổ phần M theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng V1.

  3. Trường hợp anh C chị C1 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ số tiền nợ nêu trên, ngân hàng V1 và Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là: một xe ô tô nhãn hiệu FUSHI, biển kiểm soát 17R-009.34; một 01 xe ô tô nhãn hiệu HODA, số lại CR-VL, biển kiểm soát 17A-315.63; một xe ô tô nhãn hiệu CNHTC, biển kiểm soát 17H-012.84; Quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 53; tờ bản đồ số 19; địa chỉ thửa đất: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình mang tên chủ sử dụng anh C chị C1. Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh C, chị C1 tiếp tục phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
  4. Về án phí : Anh C, chị C1 phải chịu 113.062.883đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Trả lại Ngân hàng V1 số tiền 58.000.000 đồng đã nộp tạm ứng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình theo biên lai thu số 0004997 ngày 07/01/2025.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Thái Bình.
  • -VKSND tỉnh Thái Bình
  • -VKSND huyện Quỳnh Phụ.
  • -Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ.
  • -Những người tham gia tố tụng.
  • -Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGUYỄN MINH ĐỨC

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 09/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng Nguyên đơn: 1-Ngân hàng Thương mại cổ phần V 2-Công ty cổ phần M -Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C Chị Vũ Thị C1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger