|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/DS-ST
Ngày: 12-02-2025
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Bùi Văn Sơn
- Ông Trương Thành Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Cù Thị Ngọc Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 336/2024/QĐXX-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2025/QĐST-DS ngày 14 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1976 (có mặt)
Bà Lê Thị L, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Lê Trung H, sinh năm 1981 (có mặt)
Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1955 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 26/12/2022, quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L trình bày: Nguồn gốc phần đất tọa lạc ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang ông đang sử dụng là nhận chuyển nhượng từ ông Lê Văn M1 vào năm 2004, diện tích 235,2m² với số tiền 15.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng ông tiến hành san lấp phần đất, đến năm 2007 ông xây dựng một căn nhà trên đất. Đến năm 2011 ông làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07379 cấp ngày 24/02/2011 đứng tên Nguyễn Văn B và Lê Thị L. Quá trình sử dụng đất đến năm 2022 thì phát sinh tranh chấp với hộ giáp ranh là ông H, bà M và bà K, theo đó gia đình ông H khi xây dựng lối thông hành đã lấn chiếm qua phần đất của ông ngang khoảng 2m dài khoảng 7m. Ông yêu cầu gia đình ông H trả lại phần đất lấn chiếm theo đúng diện tích của ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại biên bản hòa giải ngày 27/9/2024 ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị K tháo dỡ phần mái che, trả lại diện tích đất lấn chiếm là 2,3m² theo các điểm mốc thể hiện trên bản đồ hiện trạng ngày 30/9/2023 của Văn phòng Đ chi nhánh C.
* Tại biên bản hòa giải ngày 17/3/2023, quá trình tố tụng bị đơn ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị K cùng trình bày: nguồn gốc phần đất tranh chấp là của gia đình được thừa hưởng từ ông bà để lại, vào năm 2008 ông Lê Trung H được mẹ ruột là bà Nguyễn Thị K cho phần đất này, ông đã xây 01 căn nhà trên đất từ năm 2008 và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Phần đất này ông Lê Trung H được bà Nguyễn Thị K cho nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông B và bà L thì ông bà không đồng ý vì phần đất ông Lê Trung H xây dựng nhà là đất của ông H được bà K cho từ năm 2008. Phần đất ông B đang sử dụng là do bà K cho ông Lê Văn M1 ở trên đất để nuôi vịt, ông M1 tự ý bán cho ông B và bà L. Ông B và bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi ông H đã cất nhà năm 2008 nên không có chuyện lấn đất như ông B bà L trình bày.
Nguyên đơn đồng ý với bản đồ hiện trạng ngày 30/9/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh C, bị đơn không có ý kiến phản đối.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L rút lại yêu cầu bị đơn ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị K tháo dỡ phần mái che trên đất do hiện nay bị đơn đã tháo dỡ phần mái che. Giữ yêu cầu trả lại diện tích đất lấn chiếm 2,3m² theo các điểm 39, 16, 14, 38 thể hiện trong bản đồ hiện trạng ngày 30/9/2023 của Văn phòng Đ - chi nhánh C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị K không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hiện nay phần mái che ông Lê Trung H đã tháo dỡ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn tháo dỡ phần mái che. Chấp nhận phần yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn Lê Trung H, Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị K trả lại cho nguyên đơn diện tích 2,3m² theo các điểm mốc 39, 16, 14, 38 thể hiện trong bản đồ hiện trạng ngày 30/9/2023 của Văn phòng Đ - chi nhánh C, tỉnh An Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L yêu cầu bị đơn ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị K trả lại phần diện tích đất lấn chiếm. Hội đồng xét xử xác định tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2 Về thẩm quyền giải quyết: đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất tọa lạc tại xã V, huyện C, tỉnh An Giang nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.3 Về sự có mặt của đương sự: bị đơn Nguyễn Thị M đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với các bị đơn.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị K tháo dỡ mái che và thông hành trả lại phần đất lấn chiếm diện tích ngang khoảng 2m dài khoảng 7m. Quá trình tố tụng nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn tháo dỡ phần mái che trả lại diện tích 2,3m² theo các điểm 39, 16, 14, 38 thể hiện trong bản đồ hiện trạng ngày 30/9/2023 của Văn phòng Đ - chi nhánh C, tỉnh An Giang.
Bị đơn ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị K trình bày nguồn gốc phần diện tích ông bà đang sử dụng được thừa hưởng từ ông bà để lại, ông H và bà M xây dựng nhà từ năm 2008 và sử dụng ổn định từ đó đến nay không lấn chiếm đất của ông B và bà L nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
2.2 Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L thể hiện: nguồn gốc đất do ông Lê Văn M1 và bà Huỳnh Thị Tuyết M2 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L ngày 28/10/2010, ông B bà L được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07379 ngày 24/02/2011 đối với diện tích đất 235,2 m² tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, thuộc thửa số 55, tờ bản đồ số 3.
2.3 Căn cứ công văn số 1646/CNCT ngày 02/10/2024 của Văn phòng Đ - chi nhánh C về cung cấp tài liệu, chứng cứ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Thông tin về thửa đất số 50, tờ bản đồ số 03, giáp ranh phần diện tích đất của ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L đã cấp cho hộ Nguyễn Thị K, sinh năm 1955.
2.4 Bản đồ hiện trạng ngày 30/9/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh C thể hiện phần đất ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07379 ngày 24/02/2011, thuộc thửa số 55, tờ bản đồ số 3, diện tích 235,2m² là các điểm 29, 30, 31, 32. Qua kết quả đo đạc thực tế thì góc mái che (mái hiên) của ông Lê Trung H xây dựng nằm chồng biên qua ranh đất ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L diện tích 2,3m² theo các điểm 39, 16, 14, 38.
2.5 Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 08/11/2024 thể hiện trên phần đất tranh chấp có các tài sản gồm: Một góc mái che thuộc sở hữu của ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M nằm trong phần đất của ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L có diện tích 2,3m² theo các điểm 39, 16, 14, 38 thể hiện trên bản đồ hiện trạng ngày 30/9/2023 có kết cấu nền đất, khung cột gỗ, vách thiếc, mái lợp tole. Tại phiên tòa các đương sự thống nhất trình bày bị đơn ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M đã tháo dỡ phần mái che nên hiện nay phần mái che đã không còn.
2.6 Từ những căn cứ trên có cơ sở xác định ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị K đã sử dụng đất lấn chiếm qua đất của ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L diện tích 2,3m² theo các điểm 39, 16, 14, 38 thể hiện trên bản đồ hiện trạng ngày 30/9/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh C. Ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L yêu cầu ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị K trả lại diện tích đất lấn chiếm là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận, do đó cần buộc ông Nguyễn Trung H1, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị K trả lại phần đất lấn chiếm cho nguyên đơn. Tại đơn khởi kiện ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L yêu cầu phía bị đơn trả lại diện tích đất lấn chiếm ngang khoảng 2m dài khoảng 7m, sau khi có kết quả đo đạc thực tế ông B và L thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn trả lại diện tích lấn chiếm là 2,3m², việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với việc nguyên đơn rút lại yêu cầu buộc bị đơn tháo dỡ mái che vì cho rằng hiện nay mái che không còn, Hội đồng xét xử xét thấy việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút.
[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[4] Về chi phí tố tụng khác: do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng khác:
- Chi phí đo đạc: 835.920 đồng (tám trăm ba mươi lăm ngàn chín trăm hai mươi đồng)
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 1.000.000 đồng (một triệu đồng)
Các chi phí này tổng cộng là 1.835.920 đồng (một triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn chín trăm hai mươi đồng), nguyên đơn đã nộp xong nên bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, điều 244, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 166, Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 236 Luật đất đai 2024; Khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L.
Xác định ranh đất chung của ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị L với ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị K là các điểm mốc 29, 32 thể hiện trên bản đồ hiện trạng ngày 30/9/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh C.
Buộc ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị K trả lại cho ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L diện tích 2,3m² tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang theo các điểm 39, 16, 14, 38 thể hiện trên bản đồ hiện trạng ngày 30/9/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh C, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07379 ngày 24/02/2011, thuộc thửa số 55, tờ bản đồ số 3 đứng tên Nguyễn Văn B, Lê Thị L.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị L buộc ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị K tháo dỡ phần mái che.
3. Về án phí sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L được nhận lại số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004103 ngày 06/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về chi phí tố tụng khác:
Buộc ông Lê Trung H, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị K hoàn trả cho ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị L số tiền 1.835.920 đồng (một triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn chín trăm hai mươi đồng).
5. Quyền kháng cáo: ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị L, bà Nguyễn Thị K, ông Lê Trung H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/02/2025). Bà Nguyễn Thị M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Hữu Phúc |
Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 12/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 09/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: t/c QSDĐ
