Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

 

Bản án số: 09/2025/DS-ST

Ngày 06-6-2025

V/v: “Tranh chấp kiện đòi lại tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lại Văn Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Hào

Bà Nguyễn Thị Anh Quế

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2025/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp kiện đòi lại tài sản”;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1980; nơi cư trú: Xóm 10a, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn:

  1. Chị Lương Thị Hồng S, sinh năm 1983; nơi cư trú: Xóm A, xã X (nay là xã X), huyện X, tỉnh Nam Định;
  2. Anh Đinh Văn B, sinh năm 1982; đăng ký thường trú: Xóm A, xã X (nay là xã X), huyện X, tỉnh Nam Định; hiện đang đi xuất khẩu lao động tại Australia.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1975; Xóm 10a, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định;

Người đại diện theo ủy quyền của anh Phạm Văn C: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1980; nơi cư trú: Xóm 10a, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định (Văn bản ủy quyền ngày 17-3-2025).

Tại phiên tòa: Có mặt chị Bùi Thị H, chị Lương Thị Hồng S; vắng mặt anh Đinh Văn B, anh Phạm Văn C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 20 tháng 3 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị H đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của anh Phạm Văn C trình bày:

Vợ chồng chị và vợ chồng chị Lương Thị Hồng S, anh Đinh Văn B có quan hệ xã hội với nhau. Do có nhu cầu cần vốn để kinh doanh, phát triển kinh tế gia đình nên chị S và anh B đã nhiều lần vay tiền của vợ chồng chị; cụ thể:

Ngày 20-5-2018, chị Lương Thị Hồng S có vay của vợ chồng chị số tiền là 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng), thời hạn vay là 01 tháng, lãi suất do các bên tự thỏa thuận.

Ngày 21-8-2018, chị Lương Thị Hồng S và anh Đình Văn B1 có vay của vợ chồng chị số tiền là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), thời hạn vay là 10 ngày.

Ngày 12-9-2018, chị Lương Thị Hồng S có vay của vợ chồng chị số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), không thỏa thuận thời hạn vay, lãi suất do các bên tự thỏa thuận.

Ngày 19-10-2018, chị Lương Thị Hồng S, anh Đinh Văn B có vay của vợ chồng chị số tiền là 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng), thời hạn vay là 01 tuần, lãi suất do các bên tự thỏa thuận.

Tuy nhiên, từ sau khi hết thời hạn vay, vợ chồng chị đã nhiều lần yêu cầu chị Lương Thị Hồng S và anh Đinh Văn B trả nợ số tiền vay của vợ chồng chị nhưng chị S và anh Đinh Văn B đều khất lần, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Đến nay chị vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện buộc chị Lương Thị Hồng S và anh Đinh Văn B phải trả lại vợ chồng chị tổng số tiền vay là 2.930.000.000 đồng (Hai tỷ chín trăm ba mươi triệu đồng).

Tại Biên bản hòa giải ngày 07-5 2025 chị Bùi Thị H trình bày quan điểm: Nếu chị Lương Thị Hồng S và anh Đinh Văn B trả ngay được bằng tiền mặt thì chị sẽ chỉ yêu cầu thanh toán số tiền là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng); nếu không trả được ngay thì chị vẫn yêu cầu chị Lương Thị Hồng S và anh Đinh Văn B phải trả lại chị tổng số tiền vay là 2.930.000.000 đồng (Hai tỷ chín trăm ba mươi triệu đồng). Chị Bùi Thị H xác nhận đã nhận số tiền lãi của chị S và anh B đã trả là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Số tiền gốc mà chị S và anh B đã trả thì chị H sẽ tính toán, cộng tổng lại và sẽ có văn bản trình bày cụ thể nộp gửi cho Tòa án sau.

* Tại bản tự khai và biên bản làm việc, bị đơn là chị Lương Thị Hồng S trình bày:

Giữa vợ chồng chị và chị Bùi Thị H không có anh em họ hàng gì, không có mâu thuẫn gì với nhau. Hai chị quen biết nhau từ năm 2016 đến nay thông qua mối quan hệ xã hội làm ăn vay mượn tiền với nhau. Vợ chồng chị vay tiền chị H để phục vụ đầu tư làm ăn sản xuất gia công inox. Vợ chồng chị có vay của chị H tổng số tiền 2.930.000.000 đồng vay nợ gốc; cụ thể từng lần như sau:

Ngày 20 tháng 5 năm 2018 chị có vay của chị H số tiền 330.000.000 đồng thời hạn vay một tháng với lãi suất thỏa thuận miệng là 2.000 đồng/một ngày/1.000.000 đồng;

Ngày 21 tháng 8 năm 2018 vợ chồng chị có vay của chị H số tiền 1.000.000.000 đồng thời hạn vay 10 ngày, lãi suất hai bên thỏa thuận miệng là 2.000 đồng/một ngày/1.000.000đ;

Ngày 12 tháng 9 năm 2018 chị có vay của chị H số tiền 100.000.000 đồng. Không thỏa thuận thời hạn vay, lãi suất thỏa thuận miệng là 2.000 đồng/một ngày/1.000.000đ.

Lần cuối cùng ngày 19 tháng 10 năm 2018, hai vợ chồng chị có vay của chị H số tiền 1.500.000.000 đồng. Thời hạn vay một tuần, lãi suất hay bên thỏa thuận miệng là 2.000 đồng/một ngày/1.000.000đ.

Cả bốn lần vay nêu trên đều không có mặt chồng chị H tham gia. Chị Lương Thị Hồng S xác nhận chị và chồng là anh Đinh Văn B có vay chị Bùi Thị H số tiền là 2.930.000.000 đồng (tiền vay gốc). Vợ chồng chị đã thanh toán trả lãi ba lần vay đầu vào ngày 19 tháng 10 năm 2018; tổng số tiền lãi trong một tháng, chị trả cho chị H là 160.000.000 đồng. Kể từ ngày 22-11-2018, do kinh tế khó khăn, vỡ nợ nên vợ chồng chị không thanh toán trả lãi cho chị H nữa.

Nay chị H khởi kiện đòi vợ chồng chị số tiền 2.930.000.000 đồng thì chị chấp nhận trả nhưng chị không có tiền trả một lần mà chia làm nhiều lần, mỗi tháng trả 3.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ. Từ tháng 10 năm 2019 cho đến nay, chị vẫn thực hiện trả nợ gốc cho chị H số tiền 3.000.000 đồng tiền gốc/01 tháng. Chị đề nghị chị Hoài T vào số tiền gốc là 195.000.000 đồng và những tháng tiền lãi của năm 2018 mà chị đã thanh toán trả cho chị H thì đề nghị chị Hoài T vào số tiền gốc cho chị, vì hiện nay hoàn cảnh của vợ chồng chị đang gặp khó khăn, vỡ nợ, còn nợ lần của nhiều người.

Tại Biên bản hòa giải ngày 07-5 2025, chị Lương Thị Hồng S trình bày ý kiến: Chị S vẫn giữ nguyên quan điểm xác định chị đã trả cho chị Bùi Thị H số tiền vay gốc là 195.000.000 đồng và số tiền lãi là 160.000.000 đồng. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên vợ chồng chị không có khả năng trả hết số tiền nợ gốc còn lại cho chị H mà chỉ có thể thanh toán nợ gốc mỗi tháng là 5.000.0000 đồng/tháng;

* Tại phiên tòa, chị Bùi Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị H đồng ý trừ đi số tiền 139.700.000đ tiền nợ gốc chị H đã nhận của chị S từ ngày 05-6-2020 đến thời điểm hiện nay; đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị buộc vợ chồng chị Lương Thị Hồng S và anh Đinh Văn B phải có trách nhiệm thanh toán trả lại cho chị số tiền gốc là 2.790.300.000 đồng. Chị Lương Thị Hồng S vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Căn cứ Điều 21; Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tiến hành hòa giải, tống đạt các quyết định tố tụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a, c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 điều 39 BLTTDS, Điều 203, Điều 208, 209, 210 và 211 BLTTDS năm 2015. Từ khi thụ lý vụ án, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 68, 70, 71, 72, 73, 85 và 86 BLTTDS như cung cấp chứng cứ, tham gia phiên họp, phiên tòa.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự, xem xét tính hợp pháp của toàn bộ hồ sơ và các hợp đồng vay tài sản giữa chị Bùi Thị H với vợ chồng chị Lương Thị Hồng S, anh Đinh Văn B; đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 BLDS năm 2015, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc vợ chồng chị S, anh B phải trả cho chị H số tiền 2.500.000.000 đồng, buộc chị S phải trả cho chị H số tiền 290.300.000đ. Tổng cộng 2.790.300.000 đồng (hai tỷ bảy trăm chín mươi triệu ba trăm nghìn đồng).

Về án phí vợ chồng chị Lương Thị Hồng S, anh Đinh Văn B phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn C đã ủy quyền cho chị Bùi Thị H tham gia tố tụng, Bị đơn anh Đinh Văn B vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, hiện nay anh B đang đi xuất khẩu lao động tại Australia, chị Lương Thị Hồng S là vợ đã nhận thay các văn bản tố tụng và cam kết sẽ có trách nhiệm thông báo lại cho anh B biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh C, anh B là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Bùi Thị H khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị Lương Thị Hồng S, anh Đinh Văn B trả lại số tiền vay là 2.930.000.000 đồng (hai tỷ chín trăm ba mươi triệu đồng); đây là quan hệ tranh chấp kiện đòi lại tài sản theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015. Bị đơn vợ chồng chị Lương Thị Hồng S, anh Đinh Văn B có địa chỉ cư trú tại xóm A, xã X (nay là xã X), huyện X, tỉnh Nam Định. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét yêu cầu đòi lại tài sản của nguyên đơn: Chị Bùi Thị H yêu cầu vợ chồng chị Lương Thị Hồng S, anh Đinh Văn B trả lại số tiền vay gốc là 2.930.000.000 đồng (hai tỷ chín trăm ba mươi triệu đồng). Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là 04 giấy vay tiền do chị Lương Thị Hồng S tự viết tay và đánh máy vào các ngày 20-5-2018, ngày 21-8-2018, ngày 12-9-2018, ngày 19-10-2018 có chữ ký của người vay tài sản chị S trong 04 giấy vay tiền, anh B trong 02 giấy vay tiền. Bị đơn chị Lương Thị Hồng S thừa nhận vay tiền của chị H 04 lần với tổng số tiền vay gốc là 2.930.000.000 đồng (hai tỷ chín trăm ba mươi triệu đồng), hiện nay hoàn cảnh của vợ chồng chị S đang gặp khó khăn, vỡ nợ, còn nợ lần của nhiều người, vợ chồng chị S không có tiền trả một lần mà chia làm nhiều lần, mỗi tháng trả 5.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ. Chị S đã trả cho chị Bùi Thị H số tiền vay gốc là 195.000.000 đồng và số tiền lãi là 160.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay chị H công nhận đã nhận số tiền 139.700.000đ tiền nợ gốc của chị S từ ngày 05-6-2020 đến nay, chị H đồng ý trừ số tiền này vào số tổng nợ gốc là 2.930.000.000 đồng (hai tỷ chín trăm ba mươi triệu đồng). Chị H yêu cầu vợ chồng chị S, anh B còn phải hoàn trả lại cho chị số tiền 2.790.300.000 đồng (hai tỷ bảy trăm chín mươi triệu ba trăm nghìn đồng).

[4] Hội đồng xét xử xét thấy, chị Lương Thị Hồng S thừa nhận vợ chồng chị S có vay tiền của chị Bùi Thị H, thể hiện việc chị S tự tay viết 04 giấy vay tiền của chị H tổng số tiền 2.930.000.000 đồng (hai tỷ chín trăm ba mươi triệu đồng) nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Chị S cho rằng đã trả nợ cho chị H số tiền lãi là 160.000.000 đồng, nhưng không đưa ra được các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã trả nợ cho chị H. Hội đồng xét xử xét thấy đến nay chị H chỉ khởi kiện đòi lại số tiền cho vay gốc là 2.790.300.000 đồng (hai tỷ bảy trăm chín mươi triệu ba trăm nghìn đồng), không yêu giải quyết lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét về lãi suất. Do đó, chị Bùi Thị H khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị Lương Thị Hồng S, anh Đinh Văn B phải trả lại cho chị H, anh C tổng số tiền 2.790.300.000 đồng (hai tỷ bảy trăm chín mươi triệu ba trăm nghìn đồng) là có căn cứ chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm liên đới trả nợ: Theo 04 giấy vay tiền do chị Bùi Thị H cung cấp và lời khai của các đương sự thì anh Đinh Văn B chỉ ký có 02 giấy vay tiền vào các ngày 21-8-2018, ngày 19-10-2018. Hội đồng xét xử cần buộc chị S phải có trách nhiệm thanh toán trả lại cho chị H, anh C số tiền 290.300.000₫, buộc chị S và anh B phải có trách nhiệm liên đới thanh toán trả lại cho chị H, anh C số tiền 2.500.000.000đ là phù hợp pháp luật.

[6] Về lãi suất: Chị Bùi Thị H không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết, hiện nay đã hết thười hiệu khởi kiện về hợp đồng vay tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H được chấp nhận nên chị H không phải nộp án phí, số tiền chị H đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm sẽ được hoàn trả lại. Vợ chồng chị Lương Thị Hồng S, anh Đinh Văn B phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 166, 167 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H đối với chị Lương Thị Hồng S, anh Đinh Văn B.
  2. Buộc chị Lương Thị Hồng S phải có trách nhiệm thanh toán trả lại cho chị Bùi Thị H, anh Phạm Văn C số tiền 290.300.000đ (Hai trăm chín mươi triệu ba trăm nghìn đồng).

    Buộc chị Lương Thị Hồng S và anh Đinh Văn B phải có trách nhiệm liên đới thanh toán trả lại cho chị Bùi Thị H, anh Phạm Văn C số tiền 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng).

  3. Nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Chị Bùi Thị H không phải nộp; hoàn trả lại cho chị H số tiền 300.000₫ đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai thu số 0002619 ngày 03-3-2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định.
    • Buộc chị Lương Thị Hồng S và anh Đinh Văn B mỗi người phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị H, chị Lương Thị Hồng S có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đinh Văn B vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn một tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự chị Bùi Thị H, anh Phạm Văn C, người phải thi hành án dân sự chị Lương Thị Hồng S và anh Đinh Văn B có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nam Định:
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội
  • - Cục THADS tỉnh Nam Định:
  • - UBND xã Xuân Phúc:
  • - Đương sự:
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp kiện đòi lại tài sản

  • Số bản án: 09/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án DS-ST về việc "Tranh chấp đòi tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger