Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN TRỤ

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/DS-ST

Ngày 06-3-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hoàng Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Thủ.
  2. Bà Nguyễn Thị Bích Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 242/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QÐST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
  2. Địa chỉ trụ sở chính: Số B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D; Chức danh: Tổng giám đốc (theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Cổ phần đăng ký lần đầu ngày 13 tháng 01 năm 1992; đăng ký thay đổi lần thứ 40 ngày 09 tháng 02 năm 2021).

    Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1) (theo Văn bản ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12 tháng 10 năm 2022)

    Người đại diện theo pháp luật của Công ty S1: Ông Lê Ngọc T; Chức danh: Tổng giám đốc (theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, đăng ký lần đầu ngày 24 tháng 01 năm 2003; đăng ký thay đổi lần thứ 40 ngày 12 tháng 10 năm 2022).

    Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S ủy quyền cho: Ông Trần Đức T1; Chức vụ: Nhân viên Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Văn bản ủy quyền số 4705/2023/UQ-TGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023) (có đơn xin vắng mặt).

  3. Bị đơn: Bà Trương Thị T2, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số E, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/5/2024, hồ sơ vụ án do Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh chuyển đến và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày như sau:

Ngày 03/08/2018, bà Trương Thị T2 đã ký kết với Ngân hàng Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) với hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2,766%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Trương Thị T2 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 148.784.615 đồng, lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Bà Trương Thị T2 phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 22/10/2022, dư nợ của bà T2 còn lại là 14.019.883 đồng. Tổng số tiền bà T2 đã giao dịch và đã thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Từ ngày 22/10/2022 bà T2 không thanh toán thêm khoản tiền nào cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T2 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do đó, bà T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngày 23/02/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ chưa thanh toán tính đến ngày 22/02/2023 là 16.218.147 đồng sang nợ quá hạn theo Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 16.218.147 đồng được chuyển thành nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại.

Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Trương Thị T2 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và tiền lãi tính đến ngày 06/3/2025 là 32.883.637 đồng (Ba mươi hai triệu tám trăm tám mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 16.218.147 đồng và nợ lãi quá hạn là 16.665.490 đồng; yêu cầu bà T2 tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 07/03/2025 cho đến khi thanh toán hoàn tất số nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn bà Trương Thị T2 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có yêu cầu phản tố và không có ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Vụ án đã được Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và thuộc trường hợp không hòa giải được do người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn ngày 02/01/2025 đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Trương Thị T2 trả tiền nợ vay và tiền lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng, bao gồm “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” ngày 03/8/2018 và “Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S” nên áp dụng Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 điều chỉnh đối với tranh chấp này. Bị đơn bà Trương Thị T2 hiện đang cư trú tại xã B, huyện T, tỉnh Long An theo xác nhận của Công an xã B, huyện T, tỉnh Long An. Như vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 16 Điều 4 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được do người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 2 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả đương sự trong vụ án.

[3] Về giao nộp chứng cứ: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trương Thị T2 không có yêu cầu phản tố, không có ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[4] Ngày 03/8/2018, bà Trương Thị T2 và Ngân hàng giao kết hợp đồng tín dụng bao gồm “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” và “Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S”. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cấp thẻ tín dụng cho bà Trương Thị T2 là đúng hoạt động của Ngân hàng thương mại theo quy định tại Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Khi ký kết hợp đồng tín dụng các bên hoàn toàn tự nguyện và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung hợp đồng phù hợp quy định pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, các bên phải thực hiện theo các điều khoản được quy định trong hợp đồng. Khi ký kết hợp đồng tín dụng các bên hoàn toàn tự nguyện và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung hợp đồng phù hợp quy định pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết nên các bên phải thực hiện theo các điều khoản được quy định trong hợp đồng tín dụng.

[5] Ngân hàng đã thực hiện nghĩa vụ cấp tín dụng cho bà T2, trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, trả không đủ hoặc không đúng kỳ trả nợ quy định trong hợp đồng tín dụng, đến ngày 22/02/2023 bà Trương Thị T2 còn dư nợ là 16.218.147 đồng chưa thanh toán. Do bà T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tính đến ngày 22/02/2023 là 16.218.147 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn đối với khoản nợ này là đúng theo thỏa thuận tại Điều 23 của “Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S”. Vì bà T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Trương Thị T2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền nợ vay và tiền lãi là 32.883.637 đồng, trong đó bao gồm dư nợ gốc là 16.218.147 đồng và nợ lãi quá hạn là 16.665.490 đồng. Bà Trương Thị T2 còn phải tiếp tục trả tiền lãi cho Ngân hàng tính từ ngày 07/3/2025 trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thi hành án xong theo quy định tại Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

[6] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6.1] Buộc bà Trương Thị T2 phải chịu 1.644.182 đồng (Một triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn một trăm tám mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

[6.2] Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện được Hội đồng xét xử chấp nhận, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 572.557 đồng (Năm trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm năm mươi bảy đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008190 ngày 20/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 96, Điều 147, Điều 177, Điều 227, Điều 228, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 6, Điều 26, của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bà Trương Thị Thư .
  2. Buộc bà Trương Thị T2 có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ gốc và tiền lãi tổng cộng là 32.883.637 đồng (Ba mươi hai triệu tám trăm tám mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi bảy đồng).

    Bà Trương Thị T2 còn phải tiếp tục trả tiền lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S từ ngày 07/3/2025 tính trên số tiền nợ chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng bao gồm “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” và “Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S” cho đến khi thi hành án xong.

  3. Về án phí:
  4. Buộc bà Trương Thị T2 phải chịu 1.644.182 đồng (Một triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn một trăm tám mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước.

    Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 572.557 đồng (Năm trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm năm mươi bảy đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008190 ngày 20/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  6. Án xử sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Tân Trụ;
  • - CCTHADS huyện Tân Trụ;
  • - CCTHADS quận Tân Phú, TPHCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(ĐÃ KÝ)

Huỳnh Thị Hoàng Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 09/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger