Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 09/2025/DS-ST

Ngày 01/4/2025

V/v Tranh chấp di sản thừa kế

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thư và ông Lưu Vĩnh Hòa.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Thị Hàn Ni – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 31 tháng 3 và 01 tháng 4 năm 2025. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 275/2023/TLST- DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về: “Tranh chấp di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số 679/2024/TB-TA ngày 25 tháng 12 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên toà số 01/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025, Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 04/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025; Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự số 03/2025/QĐST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2025 và Thông báo thời gian mở phiên tòa số 75/2025/TB-TA ngày 13 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  • - Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1974; Địa chỉ: khu phố U, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt
  • - Ông Nguyễn T, sinh năm 1969; Địa chỉ: Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt

Bị đơn:

Ông Nguyễn T1, sinh năm 1968; Địa chỉ: Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt

Người làm chứng:

  • - Bà Lê Thị Thanh V, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Khu phố N. phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt
  • - Bà Lương Thị Á, sinh năm 1963; Nơi cư trú: Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt
  • - Ông Nguyễn Thành P; Nơi cư trú: Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M và ông Nguyễn T thống nhất trình bày: Cha, mẹ của nguyên đơn là cụ Nguyễn Â, sinh năm 1925 (chết năm 2013) và cụ Phan Thị Q, sinh năm 1937 (chết năm 2021) sinh được 03 người con Nguyễn T1, sinh năm 1968; Nguyễn T, sinh năm 1969 và Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1974. Trong thời gian chung sống, cụ Â và cụ Q có tạo lập một khối tài sản chung gồm: 01 ngôi nhà cấp 4 gắn liền với diện tích đất đo đạc thực tế 1256,7 m², tại thửa đất số 83, tờ bản đồ 9 (đo đạc năm 2010), tọa lạc tại: Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có tứ cận như sau: Đông giáp đường đi; Tây giáp đường đi; Nam giáp nhà ông Nguyễn T1; Bắc giáp ruộng lúa.

Cụ Â và cụ Q chết không để lại di chúc. Do đó bà M, ông T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Â, cụ Q để lại theo quy định pháp luật và yêu cầu được chia theo hiện vật. Thống nhất để lại phần diện tích đất có ngôi nhà cấp 4 cho ông Nguyễn Thận . Đối với tờ di chúc lập ngày 10/10/2021 của cụ Phan Thị Q do bị đơn ông Nguyễn T1 cung cấp là không hợp pháp đúng quy định pháp luật, vì bà Q không biết chữ và tại thời điểm lập di chúc bà Q không còn minh mẫn, bị bệnh nằm liệt một chỗ nên không thể có ý chí nguyện vọng như nội dung bản di chúc.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn ông Nguyễn T1 trình bày: Về hàng thừa kế, thời điểm mở thừa kế và khối tài sản chung của cụ Â và cụ Q thống nhất như lời trình bày của các đồng nguyên đơn.

Ngày 10/10/2021 bà Phan Thị Q có lập di chúc để lại cho tôi (Nguyễn T1) toàn bộ nhà và diện tích đất nói trên để làm nơi thờ cúng ông bà. Do đó không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên tôi vẫn đồng ý chia tài sản cho bà M, ông T mỗi người một phần tài sản. Đối với phần diện tích đất có ngôi nhà cấp 4 để lại làm nơi thờ tự ông, bà không được phân chia. Phần diện tích đất còn lại thì yêu cầu chia đều cho 03 anh em. Trường hợp chia theo quy định pháp luật, đề nghị được nhận phần diện tích đất có ngôi nhà cấp 4 để làm nơi thờ tự ông, bà.

Người làm chứng bà Lê Thị Thanh V, bà Lương Thị Á thống nhất trình bày: Bà V, bà Á là hàng xóm với nhà ông Nguyễn T1 và bà Nguyễn Thị Q1 (mẹ ruột ông T1). Ngày 10/10/2021 bà V, bà Á có chứng kiến việc bà Nguyễn Thị Q1 có lập di chúc để lại toàn bộ di sản nhà và đất tại Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên cho ông Nguyễn T1 để làm nơi thờ cúng ông, bà tổ tiên. Tại thời điểm bà Q1 lập di chúc thì bà Q1 tinh thần còn minh mẫn, có sự chứng kiến của vợ chồng ông T1, bà V, bà Á, ông Nguyễn Thành P và cháu N (con gái ông T1) là người viết di chúc theo ý nguyện của bà Q1.

Sau khi cháu N lập xong bản di chúc theo ý chí nguyện vọng của bà Q1 thì đọc cho mọi người có mặt cùng nghe và sau đó thống nhất ký tên làm chứng vào tờ di chúc, bà Q1 không biết chữ nên lăn tay vào tờ di chúc. Nội dung di chúc thể hiện nguyện vọng của bà Q1 để lại toàn bộ tài sản cho ông T1.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa phát biểu ý kiến:

  • - Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, chia di sản thừa kế của cụ Â, cụ Q1 theo quy định pháp luật, đối với bản di chúc của cụ Q1 lập ngày 10/10/2021 không tuân thủ quy định pháp luật nên không được công nhận. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là tranh chấp về thừa kế tài sản quy định tại khoản 5 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn và di sản thừa kế là diện tích đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người làm chứng Nguyễn Thành P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Xét tính hợp pháp của tờ di chúc đề ngày 10/10/2021: Theo nội dung tờ di chúc, bà Nguyễn Thị Q1 có lập di chúc để lại toàn bộ di sản nhà và đất tại Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên cho ông Nguyễn T1 để làm nơi thờ cúng ông, bà tổ tiên. Tại thời điểm bà Q1 lập di chúc có sự chứng kiến của những người làm chứng bà Lê Thị Thanh V, bà Lương Thị Á và ông Nguyễn Thành P và cháu N (con gái ông T1) là người viết di chúc theo ý nguyện của bà Q1. Sau khi cháu N lập xong bản di chúc theo ý chí nguyện vọng của bà Q1 thì đọc cho mọi người có mặt cùng nghe và sau đó thống nhất ký tên làm chứng vào tờ di chúc, bà Q1 không biết chữ nên lăn tay vào tờ di chúc. Tuy nhiên, tờ di chúc không thuân thủ về hình thức theo quy định tại khoản 3 Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực” do đó không phải là di chúc hợp pháp. Ngoài di chúc trên các đương sự đều khẳng định cụ Q1 không để lại di chúc nào khác nên di sản của cụ Q1 được chia theo quy định của pháp luật.

[3.2] Về di sản thừa kế: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thống nhất: Cụ Â và cụ Q1 khi còn sống đã tạo lập tài sản là 01 căn nhà cấp 4 gắn liền diện tích đất thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ 9 (đo đạc năm 2010) có diện tích 1274,8m² (theo kết quả đo đạc thực tế là 1256,7 m²), tọa lạc tại Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Đất có giới cận: Đông giáp đường đi; Tây giáp đường đi; Nam giáp nhà ông Nguyễn T1; Bắc giáp ruộng lúa. Cụ Â chết không để lại di chúc, người quản lý, sử dụng đất là cụ Phan Thị Q.

Theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã Đ cung cấp thể hiện: Căn cứ theo Văn bản phân chia tài sản thừa kế được lập tại Văn phòng C số công chứng 860, quyển số 01/2016 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/11/2016 có nội dung là ông Nguyễn T1, ông Nguyễn T, bà Nguyễn Thị Tuyết M từ chối nhận kỷ phần thừa kế từ khối di sản mà cha – tức ông Nguyễn  để lại. Ông Nguyễn T1, Nguyễn T, Nguyễn Thị Tuyết M cùng thống nhất nhường kỷ phần của mình cho mẹ là bà Phan Thị Q. Như vậy, bà Phan Thị Q có toàn quyền sở hữu đối với thửa đất số 83, tờ bản đồ 9 (đo đạc năm 2010) có diện tích đất 1274,8m² (đất ở đô thị 250m², đất trồng cây hàng năm khác 1024,8m²), tọa lạc tại: Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 452887, số vào số: CH 01344 được UBND huyện Đ (nay là thị xã Đ) cấp ngày 20/01/2017 cho bà Phan Thị Q, sinh năm 1937, địa chỉ: thôn N, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên (nay là Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên).

Vì vậy, có đủ cơ sở xác định toàn bộ tài sản gắn liền diện tích đất nêu trên là di sản của cụ Phan Thị Q để lại chưa được chia thừa kế.

[3.3] Về giá trị di sản của cụ Q: Theo kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản ngày 26/6/2024: Theo giá thị trường đất ở là 1.000.000 đồng/m²; đất HNK: 90.000 đồng/m2. Do diện tích thực tế thửa đất giảm so với diện tích đất trong Giấy chứng nhận, các đương sự cũng thống nhất phân chia theo diện tích đo đạc thực tế là 1256,7 m². Hội đồng xét xử xác định đối với đất ở căn cứ vào diện tích đất trong các Giấy chứng nhận; đất HNK căn cứ vào diện tích đất thực tế để xác định giá trị chia thừa kế: Đất ở diện tích 250 m² x 1.000.000đồng/m² = 250.000.000đồng; Đất HNK diện tích thực tế 1006,7m² x 90.000đồng/m² = 90.603.000đồng). Tổng giá trị về đất: 340.603.000đồng. Về vật kiến trúc (nhà, công trình trên đất) trị giá: 129.982.915 đồng. Tổng giá trị di sản: 470.585.915 đồng.

[3.4] Về hàng thừa kế: Các đương sự đều thống nhất, cụ Nguyễn Â, sinh năm 1925 (chết năm 2013) và cụ Phan Thị Q, sinh năm 1937 (chết năm 2021) là vợ chồng, sinh được 03 người con Nguyễn T1; Nguyễn T và Nguyễn Thị Tuyết M, ngoài ra không có con nuôi, con riêng. Như vậy hàng thừa kế thứ nhất của cụ Â, cụ Q gồm ông Nguyễn T1 (con đẻ), ông Nguyễn T (con đẻ), bà Nguyễn Thị Tuyết M (con đẻ). Theo khoản 2 Điều 651 Bộ luật dân sự quy định những người thừa cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau. Nên di sản được chia cho 03 người, mỗi kỷ phần thừa kế có giá trị 470.585.915 đồng / 03 người= 156.861.972 đồng.

[3.5] Phân chia di sản thừa kế bằng hiện vật: Di sản của cụ Q gồm diện tích đất theo đo đạc thực tế 1256.7 m² thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ 9 (trong đó có 250m² đất ở đô thị), tọa lạc tại: Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

[3.5.1] Các đương sự đều có yêu cầu được phân chia hiện vật. Theo quy định tại Quyết định số 46/2024/QĐ-UBND ngày 10 tháng 10 năm 2014 của UBND tỉnh P về việc ban hành quy định điều kiện và diện tích tối thiểu của việc tách thửa đất, hợp thửa đất đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Phú Yênquy định: “ Đối với đất ở, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở: Các thửa đất được hình thành sau khi tách thửa phải có diện tích tối thiểu theo mức quy định dưới đây: các phường, thị trấn 50m², các xã còn lại 60m², các thửa đất được hình thành sau khi tách thửa phải đảm bảo kích thước cạnh phía tiếp giáp lối đi và chiều sâu thửa đất bằng hoặc lớn hơn 5 m đối với khu vực nông thôn; bằng hoặc lớn hơn 4 m đối với khu vực đô thị...”. Phần diện tích đất trên được chia làm 03 phần như nhau thì mỗi người được nhận 1256.7m²/3 = 418.9m² đủ điều kiện phân chia theo hiện vật. Tuy nhiên, đồng nguyên đơn đều thống nhất phân chia cho bị đơn phần diện tích đất có gắn liền với ngôi nhà cấp 4 và các công trình phụ gắn liền và có diện tích đất nhiều hơn so với phần được chia là phù hợp với yêu cầu của bị đơn đề nghị nhận phần đất có căn nhà cấp 4 để làm nơi thờ tự ông bà, xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự nên ghi nhận, cụ thể:

[3.5.2.1] Giao cho ông Nguyễn T1 quyền sử dụng phần diện tích đất 454.6m²; trong đó có 90 m² đất ở và 364,6 đất HNK, trên đất có 01 nhà cấp 4 và các công trình phụ được giới hạn bởi các điểm khép cạnh 7',7,8,9,10,11,12,13,14,15,16,17 (ký hiệu phần A). Tổng giá trị về đất: 122.814.000đồng.

[3.5.2.2] Giao cho ông Nguyễn T quyền sử dụng phần diện tích đất 400.9m²; trong đó có 80m² đất ở và 320,9m² đất HNK được giới hạn bởi các bởi điểm khép cạnh 17,18,6',7' (ký hiệu phần B). Tổng giá trị về đất: 108.881.000đồng.

[3.5.2.3] Giao cho bà Nguyễn Thị Tuyết M quyền sử dụng phần diện tích đất 401.2m², trong đó có 80 m² đất ở và 321,2m² đất HNK được giới hạn bởi các điểm khép cạnh 1,2,3,4,5,6',18 (ký hiệu phần C). Tổng giá trị về đất: 108.908.000đồng.

[3.5.3] Đối với các tài sản trên đất bao gồm 01 ngôi nhà cấp 4, giếng nước, cây trồng, 01 chuồng trại, các bên đương sự thống nhất không tranh chấp nên Hội đồng xét xử miễn xét (tài sản nằm trên phần đất được chia cho ai thì giao người đó sở hữu).

[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, xem xét tại chỗ là 21.000.000 đồng, bà M đã nộp tạm ứng số tiền trên. Các đương sự mỗi người phải chịu và phải hoàn trả cho bà M là 7.000.000 đồng.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

[5.1] Ông Nguyễn T1 phải chịu án phí đối với kỷ phần được hưởng 122.814.000đồng x 5% = 6.140.700 đồng.

[5.2] Miễn án phí cho ông Nguyễn T và bà Nguyễn Thị Tuyết M vì là người khuyết tật (Căn cứ Quyết định số 2896/QĐ-UBND ngày 30/8/2022 của UBND thị xã Đ về việc hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người khuyết tật ông Nguyễn T và Quyết định số 710/QĐ-UBND ngày 31/3/2016 của UBND huyện Đ về việc hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người khuyết tật bà Nguyễn Thị Tuyết M).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157, Điều 165, Điều 266; Điều 229; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 649, khoản 1 Điều 650, 651 và 660 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 12, 14 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M và ông Nguyễn T về việc chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Phan Thị Q.
    1. Giao cho ông Nguyễn T1 quyền sử dụng phần diện tích đất 454.6m² trên đất có 01 nhà cấp 4 và các công trình phụ (có các điểm khép cạnh 7',7,8,9,10,11,12,13,14,15,16,17) theo trích đo hiện trạng địa chính thửa đất ngày 07/3/2024 – ký hiệu phần A, thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ 9 (đo đạc năm 2010), tọa lạc tại: Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. (Có bản trích đo kèm theo Bản bản án này)
    2. Giao cho ông Nguyễn T được quyền sử dụng diện tích đất 400.9m² (có các điểm khép cạnh 17,18,6',7') theo trích đo hiện trạng địa chính thửa đất ngày 07/3/2024 – ký hiệu phần B, thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ 9 (đo đạc năm 2010), tọa lạc tại: Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. (Có bản trích đo kèm theo Bản bản án này)
    3. Giao cho bà Nguyễn Thị Tuyết M được quyền sử diện tích đất 401.2m² (có các điểm khép cạnh 1,2,3,4,5,6',18) theo trích đo hiện trạng địa chính thửa đất ngày 07/3/2024 – ký hiệu phần C, thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ 9 (đo đạc năm 2010), tọa lạc tại: Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. (Có bản trích đo kèm theo Bản bản án này)

    Đương sự được quyền liên hệ các cơ quan chức năng để đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, đăng ký cấp GCNQSDĐ và không được cản trở quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất được chia.

  2. Tuyên bố di chúc ghi ngày 10/10/2021, có chữ ký của cụ Phạm Thị Q2 không hợp pháp.
  3. Về chi phí tố tụng: Các đương sự Nguyễn Thị Tuyết M, Nguyễn T, Nguyễn T1 mỗi người phải chịu 15.000.000đồng. Bà M đã nộp tạm ứng nên ông T và ông T1 phải thanh toán lại cho bà M mỗi người 5.000.000.000đồng.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bị đơn Nguyễn T1 phải chịu án phí số tiền 6.140.700 đồng.
    2. Miễn án phí cho bà Nguyễn Thị Tuyết M và ông Nguyễn Thân .1 Hoàn trả lại bà Nguyễn Thị Tuyết M và ông Nguyễn T số tiền đã nộp 6.250.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0011284 ngày 14/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Chi cục THADS TX Đông Hòa;
  • - VKSND thị xã Đông Hòa;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thành Hưng

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Đông Hòa, ngày 11 tháng 4 năm 2025

Số: 04/2025/QĐ-SCBSBA

QUYẾT ĐỊNH

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ Điều 268 Bộ luật tố tụng dân sự;

Xét cần sửa chữa, bổ sung bản án do có lỗi do nhầm lẫn về số liệu trong bản án số 09/2025/DSST ngày 01/4/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên về “Tranh chấp di sản thừa kế”, giữa:

Nguyên đơn:

  • - Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1974; Địa chỉ: khu phố U, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
  • - Ông Nguyễn T, sinh năm 1969; Địa chỉ: Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

Bị đơn:

Ông Nguyễn T1, sinh năm 1968; Địa chỉ: Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

QUYẾT ĐỊNH:

Sửa chữa, bổ sung bản án số 09/2025/DSST ngày 01/4/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên như sau:

  1. Tại dòng thứ 8,9,10 trang 05 từ dưới tính lên của bản án đã ghi: ” Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, xem xét tại chỗ là 21.000.000 đồng, bà M đã nộp tạm ứng số tiền trên. Các đương sự mỗi người phải chịu và phải hoàn trả cho bà M là 7.000.000 đồng ...”.
  2. Nay sửa chữa, bổ sung như sau: ” Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, xem xét tại chỗ là 15.000.000 đồng, bà M đã nộp tạm ứng số tiền trên. Các đương sự mỗi người phải chịu và phải hoàn trả cho bà M là 5.000.000 đồng...”.

  3. Tại dòng thứ 7, 8 9,10 trang 06 từ dưới tính lên của bản án đã ghi: ” Về chi phí tố tụng: Các đương sự Nguyễn Thị Tuyết M, Nguyễn T, Nguyễn T1 mỗi người phải chịu 15.000.000đồng. Bà M đã nộp tạm ứng nên ông T và ông T1 phải thanh toán lại cho bà M mỗi người 5.000.000.000đồng...”.
  4. Nay sửa chữa, bổ sung như sau: “Về chi phí tố tụng: Các đương sự Nguyễn Thị Tuyết M, Nguyễn T, Nguyễn T1 phải chịu 15.000.000đồng. Bà M đã nộp tạm ứng nên ông T và ông T1 phải thanh toán lại cho bà M mỗi người 5.000.000đồng...”.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND thị xã Đông Hòa;
  • - Chi cục THADS TX. Đông Hòa;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thành Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp di sản thừa kế

  • Số bản án: 09/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp di sản thừa kế
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger