Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/DS-ST

Ngày: 01/4/2025.

V/v: "Tr/c Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC-TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Hường.
  2. Bà Mai Thị Huyền Trang.

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến Trinh –Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 218/2024/TLST-DS, ngày 30/10/2024 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-DS ngày 24/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QÐST-DS ngày 12/3/2025 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ.

Địa chỉ: T, số A T, Phường L, Q. H, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Lê Ngọc L-Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Đ.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Trần Huy H-Chuyên viên phụ trách xử lý nợ của Ngân hàng TMCP Đ–CN tỉnh Ninh Thuận, theo Quyết định số 352/QĐ-BIDV.NT ngày 01/07/2024 của Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ-Chi nhánh N về việc ủy quyền tham gia tố tụng. Địa chỉ chi nhánh: Số A, đường B, phường P, Phan Rang T, Ninh Thuận. (ông H có mặt).

-Bị đơn: Bà Lê Thị Thu T- Sinh năm: 1967 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn N-xã P-huyện N-Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các buổi làm việc tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Đ là ông Trần Huy H trình bày:

Bà Lê Thị Thu T1 công tác tại Trường tiểu học L1), đã ký kết với Ngân hàng TMCP Đ-Chi nhánh N theo Hợp đồng tín dụng số H19001/2017HĐTD, ngày 27/11/2017 để vay số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), thời hạn vay 60 tháng, mục đích vay: phục vụ nhu cầu đời sống cá nhân và gia đình, thỏa thuận lãi suất vay ban đầu 10%/năm được áp dụng đến ngày 31/12/2017, sau đó áp dụng lãi suất thả nổi được điều chỉnh 03 tháng một lần. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Số tiền trả nợ 2.130.000 đồng/1 tháng, kỳ hạn trả nợ hàng tháng.

Trong quá trình vay vốn bà T đã trả nợ cho Ngân hàng gồm nợ gốc 61.251.638đồng + lãi trong hạn 28.707.839đồng + lãi phạt 113.523đồng. Từ ngày 18/9/2020 bà T không thanh toán nợ theo thỏa thuận cho Ngân hàng. Đến ngày 08/8/2022 bà T có trả nợ thêm cho Ngân hàng được 2.643.000đồng (nợ gốc 2.000.000đồng + lãi 643.000đồng). Kể từ ngày 09/8/2022 cho đến nay, bà T không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Ngân hàng. Bà T nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (bằng 150% của lãi suất trong hạn).

Đến nay, toàn bộ nợ vay theo Hợp đồng tín dụng nêu trên đã chuyển sang nợ quá hạn. Do bà T đã vi phạm Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng về việc trả nợ vay. Nay Ngân hàng yêu cầu bà T, phải trả toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng tính đến hết ngày 01/4/2025 là 61.940.953đồng, trong đó: Nợ gốc: 38.748.362đồng + lãi trong hạn 18.854.947đồng + lãi phạt: 4.337.644đồng. Bà T phải tiếp tục trả tiền lãi vay phát sinh tính từ ngày 02/4/2025 và lãi phạt chậm thi hành án với lãi suất theo Hợp đồng tín dụng đã được ký kết cho đến khi trả hết nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn Lê Thị Thu T2 có mặt để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

-Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử (HĐXX) từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Bị đơn Lê Thị Thu T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

-Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Lê Thị Thu T phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ, số tiền còn nợ tính đến ngày 01/4/2025 là 61.940.953đồng, gồm nợ gốc 38.748.362 đồng+nợ lãi trong hạn 18.854.947đồng+lãi phạt 4.337.644đồng. Bà T còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng. Bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ kết quả xét hỏi công khai và nghe ý kiến của nguyên đơn tại phiên tòa.

Sau khi Hội đồng xét xử nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa HĐXX nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP N1 khởi kiện bị đơn bà Lê Thị Thu T -là người có nơi cư trú tại thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Nội dung yêu cầu buộc bị đơn có nghĩa vụ trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. HĐXX xác định quan hệ pháp luật của vụ án cần giải quyết là “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

[1.1] Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn bà Lê Thị Thu T vẫn vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng họ vẫn vắng mặt. Điều này chứng tỏ bị đơn đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. HĐXX căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 BLTTDS, cùng với tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung tranh chấp: Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị Thu T phải thanh toán khoản nợ đã vay. Do bà Lê Thị Thu T đã thanh toán cho Ngân hàng được 90.073.000 đồng (bao gồm nợ vay gốc 61.251.638 đồng + nợ lãi trong hạn 28.707.839đồng + nợ lãi phạt 113.523đồng). Từ ngày 18/9/2020 bà T không thanh toán nợ theo thỏa thuận cho Ngân hàng. Đến ngày 08/8/2022 bà T có trả nợ cho Ngân hàng được 2.643.000đồng (gồm nợ vay gốc 2.000.000đồng + nợ lãi 643.000đồng). Kể từ ngày 09/8/2022 cho đến nay, bà T không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Ngân hàng. Bà T nhiều lần vi phạm

nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (bằng 150% của lãi suất trong hạn).

Tại bản tự khai có kê tình hình giao dịch tiền vay mà đại diện Ngân hàng đã nộp xác định bà Lê Thị Thu T còn nợ ngân hàng tính đến tính 01/4/2025 là 61.940.953đồng, trong đó Nợ gốc 38.748.362đồng + Nợ lãi trong hạn 18.854.947 đồng + Lãi phạt 4.337.644đồng. Ngoài ra bà T còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 02/4/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất tại hợp đồng tín dụng.

Từ những tài liệu chứng cứ mà Ngân hàng đưa ra HĐXX nhận định: Hợp đồng tín dụng số H19001/2017HĐTD, ngày 27/11/2017 được ký kết giữa bà Lê Thị Thu T với Ngân hàng TMCP Đ–CN tỉnh Ninh Thuận, để vay vốn số tiền 100.000.000đồng, thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày rút vốn, mục đích vay: phục vụ nhu cầu đời sống cá nhân và gia đình, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/1 lần và lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, phương thức trả nợ hàng tháng. Đây là giao dịch mà chủ thể tham gia có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự. Giao dịch giữa Ngân hàng với bà T được xác lập tự nguyện và hợp pháp, là căn cứ để giải quyết quyền và nghĩa vụ của các bên. Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, Ngân hàng có quyền khởi kiện và áp dụng biện pháp cần thiết để đảm bảo việc thu hồi nợ. Đối chiếu tài liệu, chứng cứ mà ngân hàng cung cấp cho Tòa án, trong quá trình giải quyết vụ án thì bà T vắng mặt, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để phản bác hoặc phản tố đối với yêu cầu khởi kiện mà Ngân hàng đưa ra.

[2.1] Do bà T vi phạm các điều khoản tại Hợp đồng tín dụng đã ký. Nay Ngân hàng yêu cầu bà T phải trả số nợ trên cho Ngân hàng và phải chịu lãi phát sinh từ ngày 02/4/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất tại Hợp đồng.

[2.1] Mức lãi suất: Trong hợp đồng tín dụng cho vay số H19001/2017HĐTD, ngày 27/11/2017 mà bà T ký kết với Ngân hàng TMCP Đ–CN tỉnh Ninh Thuận, có thỏa thuận mức lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng là 10%/năm, lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng một lần, được xác định và điều chỉnh theo các quy định, công thức nêu tại Khoản 4 của Hợp đồng tín dụng. Ngoài việc yêu cầu bị đơn phải trả nợ tính đến ngày 01/4/2025 thì Ngân hàng còn yêu cầu bà Lê Thị Thu T phải trả lãi phát sinh từ ngày 02/4/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất tại hợp đồng.

Cách tính lãi suất của Ngân hàng là đúng như thỏa thuận giữa hai bên đã ký trong hợp đồng tín dụng, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024: “tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tíndụng” và phù hợp với quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm: “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án

còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật”.

Xét giao dịch giữa Ngân hàng TMCP Đ với bị đơn Lê Thị Thu T được xác lập tự nguyện, nội dung hợp đồng quy định về mức lãi suất cho vay. Mục đích, nội dung mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cấm, phù hợp quy định Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.

Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, Ngân hàng có quyền khởi kiện và áp dụng biện pháp cần thiết để đảm bảo việc thu hồi nợ. Đối chiếu tài liệu, chứng cứ mà ngân hàng cung cấp cho Tòa án, trong quá trình giải quyết vụ án thì bà Lê Thị Thu T vắng mặt, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để phản bác hoặc phản tố đối với yêu cầu khởi kiện mà Ngân hàng đưa ra.

[2.2] Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, căn cứ vào Điều 463, 466, 468 của BLDS 2015 và Khoản 2 Điều 92 BLTTDS 2015, Khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024, HĐXX xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa buộc bà Lê Thị Thu T phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ đến ngày 01/4/2025 là 61.940.953đồng, trong đó: Nợ vay gốc: 38.748.362 đồng + Nợ lãi trong hạn: 18.854.947 đồng + Lãi phạt: 4.337.644đồng.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Lê Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 3.097.000đồng (làm tròn số, cách tính: 5% của 61.940.953đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 1 Điều 147; Điều 199; Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • Điều 117, 280, 351, 357, Điều 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015;
  • Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
  • Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1.Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ đối với bị đơn bà Lê Thị Thu T.

Buộc bà Lê Thị Thu T phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ theo khoản vay của hợp đồng tín dụng số H19001/2017HĐTD, ngày 27/11/2017 với số tiền nợ gốc là 38.748.362 đồng + Nợ lãi: 18.854.947 đồng; Lãi phạt: 4.337.644đồng (lãi tính đến ngày 01/4/2025). Tổng cộng là 61.940.953 đồng (sáu mươi mốt triệu, chín trăm bốn mươi ngàn, chín trăm năm mươi ba đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Lê Thị Thu T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi và lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số H19001/2017HĐTD, ngày 27/11/2017 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ và bà Lê Thị Thu T cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

2.Về án phí: Buộc bà Lê Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.097.000đồng (ba triệu, không trăm chín mươi bảy ngàn đồng).

Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 1.739.000đồng (một triệu, bảy trăm ba mươi chín ngàn đồng) đã nộp tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0004704, ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3.Quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần N1 có mặt-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01/4/2025); Bị đơn vắng mặt-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • -Các đương sự;
  • -TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • -VKSND huyện Ninh Phước;
  • -Chi Cục THADS Ninh Phước;
  • -Lưu (hồ sơ, án văn).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Dương Thị Xuân Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 09/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger