TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 09/2025/DS-PT Ngày 11/4/2025 “V/v tranh chấp đòi lại tài sản” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Hoài Thủy;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Yến;
Bà Đoàn Thị Kim Thương.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Long- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân An - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 31/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 03/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn T; địa chỉ: Số B, đường L, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Thị Tường V; địa chỉ: Số F, đường C, khu phố H, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Người làm chứng: Bà Phan Thị N; địa chỉ: Khu phố H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Người kháng cáo: Bà Lê Thị Tường V là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Ngày 20 tháng 3 năm 2024, bà Phan Thị N điện thoại cho ông Trần Văn T hỏi nhờ cho bà Lê Thị Tường V là chị em họ vay số tiền 65.000.000 đồng để bà V đáo hạn Ngân hàng và hẹn 02 ngày sau sẽ trả. Đồng thời bà N gửi số điện thoại 0915.400.xxx của bà V để hai bên liên lạc, sau khi gọi điện cho bà V để xác nhận các nội dung liên quan đến việc vay tài sản, ông T đã chuyển khoản số tiền 65.000.000 đồng vào số tài khoản 0009915400797 tại Ngân hàng N1 cho bà V. Bà V đã thừa nhận nhận được số tiền trên và trả lời “u co roi” thông qua hình thức nhắn tin Zalo cho bà N. Sau 02 ngày ông T gọi điện cho bà V để đòi tiền thì bà V nói “Ngân hàng chưa giải ngân được”. Sau nhiều lần không liên lạc được với bà V nên ông T đã đến nhà của bà V nhưng đều không gặp. Vào ngày 03/5/2024, ông T cùng bà N đến nhà bà V để đòi lại số tiền bà V đã vay thì bà V chối bỏ, không nhận là đã vay tiền của ông T. Ông yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc bà V phải trả lại số tiền đã vay 65.000.000 đồng.
* Bị đơn bà Lê Thị Tường V trình bày:
Bà Lê Thị Tường V và bà Phan Thị N có quan hệ là chị em họ. Vào tháng 11/2023, bà N nhờ bà V đứng ra vay giúp số tiền 100.000.000 đồng để nộp tiền cho con gái bà N đi xuất khẩu lao động, hẹn 10 ngày sau trả tiền. Vào ngày 28/11/2023 bà V đã chuyển khoản cho bà N số tiền 100.000 000 đồng. Ngày 07/02/2024 bà N đến trả cho bà V 50.000.000 đồng. Ngày 20/03/2024 bà N báo có số tài khoản ông Trần Văn T là người mà bà N nhờ chuyển tiền giúp trả số nợ còn lại của bà N cho bà V. Bà V xác nhận tài khoản đã nhận được 65.000.000 đồng từ người có tên là Trần Văn T. Bà V nhận tổng là 115.000.000 đồng từ bà N. Trong đó 100.000.000 đồng tiền gốc, 15.000.000 đồng tiền lãi. Bà V cam đoan không quen biết người tên là Trần Văn T trên bất cứ nền tảng mạng xã hội nào cũng như trong cuộc sống. Hai tháng sau, bà N dẫn người đàn ông tên Trần Văn T đến nhà bà V yêu cầu trả tiền. Với lý do ông Trần Văn T chuyển nhầm vào tài khoản bà V 65.000.000 đồng và yêu cầu bà V trả lại. Bà V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T và đề nghị Hội đồng xét xử bác bỏ yêu cầu khởi kiện của ông T.
* Người làm chứng bà Phan Thị N trình bày:
Bà N thừa nhận có vay bà Lê Thị Tường V số tiền 100.000.000 đồng, đã trả cho bà V số tiền 50.000.000 đồng, số tiền còn lại bà V có cho bà N thời gian lúc nào có tiền thì trả tiếp. Bà N cam đoan không có sự thỏa thuận nào giữa bà N với ông T để ông T thay bà N trả tiền cho bà V.
Vào ngày 18/3/2024 bà V có gọi điện cho bà N hỏi nhờ vay số tiền 65.000.000 đồng, mục đích để bà V đáo hạn ngân hàng. Bà N gọi điện để nhờ ông T cho bà V vay số tiền trên đồng thời đưa số điện thoại của bà V cho ông T để hai bên tự thực hiện giao dịch. Sau đó, ông T đã chuyển khoản cho bà V 65.000.000 đồng và gửi hình ảnh chuyển khoản thành công cho bà N biết. Bà N nhắn tin Z cho bà V với nội dung: “Em nhờ rồi” “Mai đáo sớm cho T kẻo lỡ việc nó không được chị nghe” kèm theo là hình ảnh giao dịch chuyển tiền thành công, bà V trả lời: “u co roi”. Một thời gian sau bà V lấy lý do chưa đáo hạn Ngân hàng được nên chưa thể trả nợ cho ông T, vì tin tưởng nên ông T để cho bà V một thời gian nhưng sau đó bà V vẫn không trả tiền cho ông T nên ông T khởi kiện yêu cầu bà V trả lại số tiền đã vay.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 và Điều 147, Điều 271, Điều 273, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466 khoản 1 Điều 469 Bộ luật Dân sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T đối với bị đơn bà Lê Thị Tường V về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Buộc bà Lê Thị Tường V phải phải trả cho ông Trần Văn T số tiền vay 65.000.000 (Sáu mươi lăm triệu) đồng.
* Ngày 28/10/2024, 15/11/2024, bị đơn bà Lê Thị Tường V kháng cáo bản án với nội dung:
Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, với lý do: Chưa thực hiện việc cấp tống đạt văn bản tố tụng theo quy định pháp luật dẫn đến phiên tòa xét xử vắng mặt bà V và Bản án quyết định buộc bà V trả cho ông Trần Văn T 65.000.000 đồng là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà V. Trường hợp Tòa án không chấp nhận hủy Bản án sơ thẩm thì đề nghị sửa Bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị có ý kiến như sau:
Quá trình thụ lý xét xử vụ án: Các Thẩm phán, Thư ký cấp phúc thẩm chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng khác thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS năm 2015; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016, tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Căn cứ Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bà Lê Thị Tương V1 có quyền kháng cáo và việc kháng cáo được thực hiện trong thời hạn quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
- Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông T khởi kiện “đòi lại tài sản”. Tại phiên tòa, nguyên đơn ông T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà V1 trả lại số tiền 65.000.000 đồng do đã chuyển vào số tài khoản của bị đơn nhưng Toà án nhân dân huyện Vĩnh Linh xác định quan hệ tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là chưa chính xác mà phải xác định quan hệ tranh chấp “Tranh chấp đòi lại tài sản” căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26 của BLTTDS.
[2] Xét nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Đối với kháng cáo cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm không tống đặt văn bản tố tụng về việc mở lại phiên tòa ngày 27/9/2024 cho bà V1 biết, thấy rằng: Ngày 13/9/2024, Tòa án sơ thẩm đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng cho bà V1 bao gồm các văn bản sau: Quyết định hoãn phiên tòa ngày 12/9/2024; Thông báo mở lại phiên tòa ngày 12/9/2024 nhưng do bà V1 vắng mặt nơi cư trú nên không thể tống đạt được. Vì vậy, Tòa án sơ thẩm đã căn cứ Điều 177, Điều 179 của BLTTDS để lập biên biên bản không tống đạt được văn bản tố tụng, đồng thời niêm yết văn bản tố tụng, có xác nhận của Khu phố trưởng và UBND thị trấn H nhưng chưa niêm yết văn bản tố tụng tại nơi ở của đương sự. Tuy nhiên, việc chưa niêm yết tại nơi cư trú không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự. Sau khi xét xử vụ án bà V1 có đơn kháng cáo và việc kháng cáo được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm nên việc bà V1 cho rằng vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm ngày 27/9/2024 dẫn đến bà không được trình bày ý kiến làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà nhưng bà V1 vẫn có quyền bảo vệ quyền lợi của mình tại phiên toà phúc thẩm.
[2.2] Đối với kháng cáo đề nghị Tòa án sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T, thấy rằng:
Theo Bản sao kê Ngân hàng N1 ngày 20/3/2024, thể hiện: ông Trần Văn T có chuyển số tiền 65.000.000 đồng đến tài khoản số 0009915400797 của Lê Thị Tường V (sự việc đều được ông T và bà V thừa nhận). Mặc dù việc chuyển tiền trên không được lập thành văn bản nhưng đều xuất phát từ ý chí tự nguyện của các bên và mục đích không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội nên giao dịch này có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 117 của BLDS.
- Theo nội dung tin nhắn giữa bà N với bà V thể hiện: “Em nhờ rồi” “Mai đáo sớm cho T kẻo lỡ việc nó không được chị nghe” kèm theo hình ảnh giao dịch chuyển tiền thành công; bà V trả lời “Ừ, có rồi”, cho thấy việc ông T chuyển tiền cho bà V nhằm mục đích để bà V đáo hạn ngân hàng.
- Theo tin nhắn giữa bà V với bà N vào ngày 02/5/2024 thể hiện nội dung: bà V đang khó khăn nên muốn gánh số tiền 50.000.000 đồng của bà N nợ bà V qua cho ông T nhưng bà N không đồng ý việc này.
- Theo bà N trình bày: bà N thừa nhận có vay bà V số tiền 100.000.000 đồng, đã trả 50.000.000 đồng còn nợ lại 50.000.000đồng; bà N không có thỏa thuận với ông T để ông T thay bà N trả số tiền còn thiếu cho bà V. Ngày 18/3/2024, bà V nhờ bà N vay số tiền 65.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng nên bà N liên lạc với ông T và chuyển số điện thoại bà V cho ông T, sau đó ông T chuyển vào số tài khoản của bà V số tiền 65.000.000 đồng.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Giữa bà Lê Thị Tường V và ông Trần Văn T có phát sinh giao dịch dân sự, theo đó ông T chuyển cho bà V số tiền 65.000.000 đồng, bà V đã nhận đủ tiền chứ không phải khoản tiền bà N nhờ ông T trả nợ thay bà N nên kháng cáo của bà V không có cơ sở chấp nhận.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị Tường V và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Do kháng cáo của bà Lê Thị Tường V không được chấp nhận nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, bà V đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị Tường V và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 271, Điều 273 của BLTTDS năm 2015; Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 166 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T. Buộc bà Lê Thị Tường V phải phải trả cho ông Trần Văn T số tiền 65.000.000 (Sáu mươi lăm triệu) đồng.
- Về án phí: Buộc bà Lê Thị Tường V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, bà V đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0000446 ngày 04/12/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
- Các quyết định của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoài Thủy |
Bản án số 09/2025/DS-PT ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 09/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T - Lê Thị Tường V
