Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/DS-PT

Ngày: 07-3-2025

V/v “Tranh chấp Chia di sản thừa kế”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lương Quang

Các Thẩm phán: ông Phạm Cao Gia và ông Ngô Chịu .

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lê Hải Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân nhân tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: ông Phan Văn Công - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 98/2024/DS-ST ngày 15/10/2024 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hòa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 110/2024/QĐ-PT ngày 30/12/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 210/2025/QĐPT-DS ngáy 07/01/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1936; Địa chỉ: Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt

Ông C ủy quyền ông Lê Văn S – sinh năm 1931; địa chỉ: khu phố E, phường P, thành phố T, Phú Yên. Có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông C: Ông Nguyễn N là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. Có mặt

- Bị đơn: Nguyễn L – sinh năm 1934, địa chỉ: khu phố E, phường P, thành phố T, Phú Yên. (chết)

Người kế thừa quyền nghĩa vụ của bị đơn Nguyễn L:

1

+ Nguyễn Xuân L1 – sinh năm 1960; Địa chỉ: khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt. Có mặt bà Nguyễn Thị T – sinh năm 1966; Địa chỉ: khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

+ Nguyễn Thị V (Vô) – sinh năm 1966; Địa chỉ: khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt

+ Nguyễn Văn K – sinh năm 1972; Địa chỉ: khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

+ Nguyễn Thị M – sinh năm 1974; Địa chỉ: khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

+ Nguyễn Thị L2 – sinh năm 1976; Địa chỉ: khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: bà Trần Thị Như T1 – VPLS P, Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên. Có mặt.

· Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ vợ chồng anh Nguyễn Thanh T2; Địa chỉ: khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

2/ Nguyễn Thị N1 (chết khoảng năm 1976) có chồng là Nguyễn T5 (chết), các con: Nguyễn Thị X – sinh năm 1957; Địa chỉ: thôn U, xã H, thị xã Đ, Phú Yên; Hiện ở: khu phố E, phường P, thành phố T, Phú Yên; và Nguyễn Thị C1 – 60 tuổi (không rõ địa chỉ). Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà X: Ông Nguyễn N là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.

3/ Nguyễn H (chết năm 1978) có vợ là Lê Thị V1 – 1946, các con: Lê Thị T3 – sinh năm 1973, Nguyễn Thị M1, Nguyễn Thị M2 – sinh năm 1980, Nguyễn Thị M3; Hiện ở: thôn C, Xã E, Huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

4/ Ông Nguyễn T4, sinh năm 1945; Địa chỉ: Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Người kháng cáo: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Nguyễn Xuân L1, Nguyễn Thị V (Vô), Nguyễn Văn K, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và bổ sung tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Nguyễn Ngọc C trình bày: nguyên cha mẹ ông C là Nguyễn C2 (chết năm 1974) và Ma Thị N2 (chết năm 1968) có 05 người con: Nguyễn Thị N1 (chếtnăm 1976), Nguyễn L, Nguyễn H (chếtnăm 1978), Nguyễn Ngọc C, Nguyễn Tộ . Quá trình chung sống ông C2, bà N2 để lại diện tích đất khoản 271,1m2 tại khu phố E, phường P, thành phố T, trên đất có căn nhà cấp 4 đã cũ hiện tại ông L giao cho con ông ở; Nguồn gốc diện tích đất trên là ông C2 bà N2 được chế độ cũ cấp, nhưng không còn giấy tờ gì để cung cấp. Quá trình sử dụng, ông L tự ý kê khai chúng tôi không hay biết nên không đồng ý, đất là của ông C2, bà N2.

2

Bản thân ông L trước giải phóng là lính ngụy, có nhà riêng. Khi giải phóng xong, cha mẹ cũng đã chết, ông L đi cải tạo về thì bán nhà riêng của ông L chuyển về nhà ông C2 ở; Trước đây tôi (C) ở tại nhà đất này, đến khi ông L về thì tôi (C) giao nhà lại ông L ở, thờ cha mẹ, ông C ra ở riêng.

Sau khi ông L ở nhà đất này thì đánh đuổi bà X ra ngoài. Ông L ở được thời gian ngắn thì chuyển ở với con ông, nhà bỏ hoang, gần đây khi chúng tôi khởi kiện thì ông mới nói cháu dâu ông dọn về ở, kêu bán đất. họ tên cháu dâu là gì tôi không biết. Nhà đất trước giờ do cha mẹ (cụ C2, cụ N2) tạo dựng, ông L cho con ở nhưng cũng không xây dựng gì thêm, chỉ làm lại cái chái trước sân.

Từ khi cha mẹ chết không để lại di chúc, anh em chúng tôi cũng chưa thỏa thuận chia di sản.

Nay chúng tôi yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ C2, cụ N2 là diện tích đất khoản 271,1m2 tại khu phố E, phường P, thành phố T cho các hàng thừa kế theo quy định.

- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn Nguyễn L trình bày: thống nhất với phía nguyên đơn về diện hàng thừa kế của cụ C2 và cụ N2. Còn về di sản của cụ C2 và cụ N2 để lại theo ý kiến và yêu cầu của nguyên đơn thì chúng tôi không đồng ý: diện tích đất tại khu phố E, phường P, thành phố T nguồn gốc do ông Nguyễn L tạo lập, kê khai đăng ký với cơ quan nhà nước, đóng thuế theo quy định. Không phải do cha mẹ để lại nên không thống nhất yêu cầu chia di sản của nguyên đơn. Hiện tại, ông L cùng gia đình sinh sống lại nhà đất trên, nhà đất là do ông L tạo dựng nhưng ông L không cung cấp chứng cứ chứng minh.

Đến cuối năm 2022 ông Nguyễn L chết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/9/2023, và biên bản lấy lời khai ngày 22/3/2024 những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn Nguyễn L trình bày: cuối năm 2022, đầu năm 2023 ông L chết, ông L có vợ là Lê Thị L3 (chết năm 2011) và 05 người con là Nguyễn Xuân L1, Nguyễn Thị V (Vô), Nguyễn Văn K; Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L2. Nhà đất tại khu phố E, phường P là của ông bà nội Nguyễn C2, Ma Thị N2; cụ C2 cụ N2 có 05 người con là N1, L, H, C, T4; nhưng khi ông C2 còn sống đã chia đầy đủ cho các con, người có đất, người có bò nghé, bản thân ông L được ông C2 cho nhà đất tại khu phố E, phường P và ông L đã sử dụng ổn định từ trước khi giải phóng đến nay. Hiện nay, nhà đã xuống cấp và do vợ chồng anh T2 (là con trai của ông L1) sử dụng, không sửa chữa gì thêm. Nhà đất là của ông bà, cha mẹ để lại không ai bán chia, nếu chia di sản thì phải chia luôn cả diện tích đất mà ông C2, bà N2 đã cho ông H (đã bán cho người khác), và đất đã cho ông T4 (hiện do ông T4 sử dụng) vì toàn bộ các diện tích đất trên là di sản của ông C2 bà N2 để lại.

Tại văn bản ngày 05/2/2021 (BL 76) và được bổ sung ngày 25/7/2022 (bl 202) và tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông T4 trình bày: trước đây tôi cùng nguyên đơn ông C khởi kiện bị đơn ông L về việc chia di sản của cha mẹ tôi (cụ Nguyễn C2 chết năm 1974, cụ Ma Thị N2 chết năm 1968), diện tích đất và nhà 270m2 tại khu phố E, phường P; Sau đó, vì tuổi già, con cháu trong nhà động viên nên tôi không còn yêu cầu chia di sản thừa kế và xin rút yêu cầu khởi

3

kiện; Nguyên nguồn gốc nhà đất tại khu phố E, phường P là cha mẹ tôi được chính quyền cũ cấp năm 1966 nhưng không có giấy tờ gì; khi đó, ông C và ông L đều đi lính, chỉ có tôi mua miếng đất kế bên, và ở cùng cha mẹ đến khi cha mẹ chết thì nhà để trống, không ai trông giữ; khi đất nước hòa bình (năm 1976), ông C trở về nhà và mua đất ở riêng, ông L cũng về nhưng không có nhà nên ở tại nhà cha mẹ từ đó đến nay. Đối với yêu cầu chia di sản thừa kế của ông C, tôi không có ý kiến, nếu có chia cho tôi thì tôi yêu cầu để lại cho ông L để thờ cúng ông bà, tôi không nhận di sản, và không có yêu cầu gì khác.

Tại các biên bản lấy lời khai ngày 11/5/2020, bà V1, bà M4, bà M6, bà M2, và T6 là những người thừa kế của ông H trình bày: cụ C2 và cụ N2 có với nhau 05 người con (4 trai, 1 gái), ông Nguyễn H có vợ là bà Lê Thị V1, có với nhau 4 người con gái; năm 1982 ông H chết, bà V1 là con dâu nên đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, những người thừa kế của ông H không có ý kiến, và không tranh chấp gì, đề nghị không đưa vào tham gia tố tụng vì không có liên quan gì đến vụ án.

Tại các biên bản lấy lời khai ngày 25/01/2021, bà X là người thừa kế của bà N1 trình bày: Mẹ bà có 02 người con là bà và bà C1, sau khi mẹ chết thì chị em bà thất lạc, hiện nay bà không biết em bà đang ở đâu, từ nhỏ cha mẹ chết sớm nên bà ở với bị đơn ông L, tại phường P, nhưng sau đó, ông L không cho ở nữa nên bà đi lang thang, lúc ở P lúc ở quê nội là thôn U, xã H. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông C, yêu cầu chia dia sản thừa kế của ông bà ngoại bà (cụ C2, cụ N2), bà yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật, bà xin nhận một phần đất của ông bà ngoại để xây nhà riêng có chổ ở ổn định.

Người làm chứng ông T7 trình bày: ông sống ở khu phố E, phường P từ năm 1967, theo ông được biết nguồn gốc đất ông L đang sử dụng là của cụ C2, cụ N2 nhận tái định cư của chế độ cũ, sau khi cụ C2, cụ N2 chết thì ông L ở từ đó đến nay.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: tại phiên tòa các đương sự đều thống nhất diện tích đất 270,7m2 tại khu phố E, phường P, thành phố T là của cụ C2, cụ N2 để lại, chưa chia, do đó, đề nghị áp dụng Điều 649, 654, 652 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chia thừa kế bằng giá trị cho các kỷ phần theo biên bản định giá ngày 09/6/2021 của Hội đồng định giá thành phố T.

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn trình bày: nhà đất tại khu phố E, phường P, thành phố T là của cụ C2, cụ N2 để lại cho bị đơn Nguyễn L, từ khi cụ C2 còn sống, bị đơn là người chăm sóc cụ C2 lúc ốm đau, đến khi chết, hiện nay bị đơn Nguyễn L đã chết, nhà đất giao lại cho gia đình ông L1 quản lý, thờ cúng ông bà, cha mẹ, nhà đã xuống cấp nên chỉ sữa chữa tạm để sống chứ không xây dựng sữa chữa gì thêm. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông C, Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn yêu cầu để nhà đất lại để thờ cúng ông nhà, cha mẹ không ai được bán chia.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị: bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì không có căn cứ, nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh diện tích đất 270.7m2 tại khu phố E, phường P là của cụ C2, cụ N2 để lại, mà chỉ dựa vào biên bản xác minh ngày 22/11/2019 tại U cung cấp là chưa chính

4

xác, bởi lẽ, theo biên bản xác minh này, di sản của cụ C2, cụ N2 là 03 thửa đất với tổng diện tích khoảng 700m2, nhưng theo lời ông T4 (con cụ C2), khi tái định cư cha mẹ ông được nhận diện tích đất 12mx25m, UBND phường U cũng không có tài liệu lưu giữ từ năm 1966, do đó, biên bản xác minh ngày 22/11/2019 của UBND phường U chưa có căn cứ, mặc khác ông L là người đăng ký kê khai diện tích đất nêu trên, đã sử dụng trên 40 năm. Do đó, diện tích đất 270.7m2 tại khu phố E, phường P là của ông L, không phải là di sản thừa kế. Đối với căn nhà trên đất do ông C2 bà N2 xây dựng đã xuống cấp, nguyên đơn không có yêu cầu tính giá trị chia, bị đơn không có ý kiến.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 15/01/20244 của TAND thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên: Căn cứ các Điều 26, 35, 147, 157, 161, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 697, 698, 699, 700 BLDS năm 2005; Điều 129 BLDS năm 2015; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Án lệ số 04 và Án lệ số 55 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế

1.1. Di sản thừa kế của cụ Nguyễn C2, Ma Thị N2 là thửa đất số 111, tờ bản đồ số 11 (năm 1992), diện tích 270,07m2, tại khu phố E, phường P (theo bảng vẽ mặt bằng hiện trạng nhà và đất ngày 26/4/2021) có giá trị 833.449.000đ (theo biên bản định giá ngày 09/6/2021).

1.2. Giao những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn Nguyễn L nhận hiện vật là quyền sở hữu nhà, vật kiến trúc gắn với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 111, tờ bản đồ số 11 (năm 1992), diện tích 270,07m2, tại khu phố E, phường P.

1.3. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn Nguyễn L được hưởng thừa kế và được tính một phần công sức quản lý di sản là 20% di sản, tương ứng 166.689.800₫.

1.4. ông Nguyễn T4 không nhận di sản mà để lại cho ông Nguyễn L. Do đó, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn Nguyễn L có nghĩa vụ thanh toán cho các đồng thừa kế là ông Nguyễn Ngọc C, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Nguyễn Thị N1, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Nguyễn Hầu M5 kỷ phần 133.351.840₫.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.

Ngày 28/10/2024, những người kế thừa quyền và nghĩa cụ tố tụng của bị đơn Kháng cáo yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 15/10/2024 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hòa, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

5

Cùng ngày, hai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan C3 và C4 có đơn kháng cáo theo hướng như bị đơn nêu, lý do: Chúng tôi là đồng chủ quyền sử dụng đất nhưng không biết và cũng không đồng ý việc chuyển nhượng này.

Tại phiên toà:

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Nguyên đơn không chấp nhận kháng cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Kiểm sát viên phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia di sản thừa kế của cụ C2, cụ N2 theo pháp luật là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cụ C2, cụ N2 cho tài sản nhà đất đang tranh cấp cho bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bị đơn – giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn có đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định là kháng cáo hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến Hành xét xử vụ án vắng mặt một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.

[2] Về thời hiệu khởi kiện:

Tại khoản 1 Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, điểm a mục 2.2 phần I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC quy định thời hiệu khởi kiện về thừa kế: “Đối với những việc thừa kế đã mở trước ngày 10-9-1990, thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10-9-1990”. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS năm 2015: “Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này”; khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự quy định “...Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, ..., kể từ thời điểm mở thừa kế...”.

6

Theo đơn xin xác nhận người quá cố ngày 19 tháng 11 năm 2020, ông Nguyễn C2 chết ngày 11/01/1974, bà Ma Thị N2 chết ngày 03/3/1968, căn cứ quy định nêu trên thì thời điểm nguyên đơn khởi kiện là năm 2019 nên thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Cụ Nguyễn C2 và cụ Ma Thị N2 chết không để lại di chúc nên giải quyết chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật.

[3] Về diện, hàng thừa kế: Theo xác nhận của chính quyền địa phương và lời khai các đương sự trong vụ án đều thừa nhận cụ Nguyễn C2 và cụ Ma Thị N2 là vợ chồng có với nhau 05 người con: Nguyễn Thị N1, Nguyễn L, Nguyễn H, Nguyễn Ngọc C, Nguyễn Tộ . Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS thì ngoài những người trên đây thì cụ Nguyễn C2 và cụ Ma Thị N2 không còn người nào khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

Năm 1976 bà Nguyễn Thị N1 chết có chồng là ông Nguyễn Đình T5 (đã chết), 02 người con là Nguyễn Thị X và Nguyễn Thị C1. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS, bà X và bà C1 là hàng thừa kế thứ nhất của bà N1.

Năm 1982 ông Nguyễn Hầu C5 có vợ là bà Lê Thị V1, các con: Nguyễn Thị M3, Nguyễn Thị M6, Lê Thị T6, Nguyễn Thị M2. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS, bà V1, các chị M3, M6, T6, M2 là hàng thừa kế thứ nhất của ông H.

Năm 2022 ông Nguyễn L chết có vợ là Lê Thị L3 (chết năm 2011) và 05 người con làNguyễn Xuân L1, Nguyễn Thị V (Vô), Nguyễn Văn K; Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L2. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS, ông L1, bà V (V), ông K; bà M, bà L2 là hàng thừa kế thứ nhất của ông L.

[4] Về di sản thừa kế:

[4.1] Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng biên bản xác minh tại ủy ban nhân dân phường U xác định nguồn gốc thửa đất số 111 của cụ C2 cụ N2 là chưa có căn cứ, không đúng với thực tế đề nghị xác minh lại; Theo biên bản xác minh các ngày 22/11/2019, 11/6/2021, 18/6/2021 UBND Phường U cung cấp: thửa đất số 111, tờ bản đồ số 11 (năm 1992), diện tích 270m2, tại khu phố E, phường P có nguồn gốc của ông Nguyễn C2, bà Ma Thị N2 được chế độ cũ cấp, nhưng địa phương không còn lưu giữ giấy tờ liên quan nhà đất từ chế độ cũ. Tại biên bản xác minh ngày 27/6/2022, UBND Phường U cung cấp: đối với nguồn gốc thửa đất nói trên, trước đây ủy ban cung cấp của cụ C2, cụ N2 nhận của chế độ cũ để lại cho các con, tuy nhiên qua kiểm tra, địa phương không lưu giữ giấy tờ liên quan đến chế độ cũ, thửa đất nêu trên chưa làm thủ tục cấp giấy CNQSDĐ nên chưa có cơ sở để xác định nguồn gốc đất của cụ C2, cụ N2 để lại hay không;

Tuy nhiên, lời khai các đương sự trong vụ án và người làm chứng Huỳnh T7 tại biên bản lấy lời khai ngày 15 tháng 4 năm 2021 đều thừa nhận, nhà và đất thuộc thửa đất số 111, tờ bản đồ số 11, tại khu phố E, phường P, thành phố T do cụ C2, cụ N2 nhận đất tái định cư của chế độ cũ và xây dựng nhà sinh sống từ năm 1966, đến năm 1968 cụ N2 chết, năm 1974 cụ C2 chết, không để lại di chúc. Từ năm 1975 ông L quản lý sử dụng nhà đất trên và kê khai trên sổ mục kê của ủy ban; Theo tờ bản đồ, sổ mục kê năm 1992 thửa đất trên có diện tích 270m2, diện tích thực tế hiện nay là 270,7m2 (theo trích đo chỉnh lý hiện trạng địa chính thửa đất do Trung tâm K1 thuộc

7

Sở tài nguyên và môi trường tỉnh P thực hiện ngày 26/4/2021), diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có tranh chấp ranh giới với người khác, phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo quyết định quy hoạch số 1913/QĐ-UBND ngày 03/10/2018 của UBND tỉnh P. Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn cho rằng nhà đất đang tranh chấp là của cụ C2, cụ N2 đã cho ông L nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh việc cho. Do đó, xác định nhà đất tại thửa đất số 111, tờ bản đồ số 11, diện tích 270,7m2 tại khu phố E, phường P, thành phố T là di sản do cụ C2 và cụ N2 để lại, có giá trị 833.449.000đ (theo biên bản định giá ngày 09/6/2021).

Trên đất tồn tại căn nhà do cụ C2, cụ N2 xây dựng từ năm 1966, hiện tại các con ông L vẫn đang sử dụng nhưng nhà đã xuống cấp, ông L và các con không sửa chữa, cải tạo gì thêm, Hội đồng định gía tài sản tranh chấp xác định căn nhà không còn giá trị sử dụng. Nguyên đơn chỉ yêu cầu chia di sản thừa kế đối với diện tích đất.

[4.2] Theo bị đơn di sản thừa kế cụ C2, cụ N2 để lại còn có thửa đất số 115, tờ bản đồ số 11, diện tích 310m2 tại khu phố E, phường P, thành phố T hiện do ông Nguyễn T4 quản lý sử dụng và thửa đất số 112, tờ bản đồ số 11, diện tích 215m2 cho ông Nguyễn H sử dụng và đã bán cho người khác.

Tuy nhiên, tại biên bản xác minh ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa: Ủy ban nhân dân phường U cung cấp: theo bản đồ năm 1992, thửa đất số 115 chủ sử dụng là ông Nguyễn T4, thửa đất số 112 chủ sử dụng là ông Nguyễn T8; ông T4 cung cấp giấy xác nhận bán đất (BL 111) ngày 24/11/2018 thể hiện vợ chồng ông T4 mua diện tích đất có xây dựng nhà ở tại khu phố E phường P của vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L4, bà Huỳnh Thị H1; nguyên đơn trình bày các thửa đất số 115 là cụ C2, cụ N2 lúc sinh thời mua cho ông T4, thửa 112 cụ C2, cụ N2 đã cho ông H, hiện nay đã bán qua cho nhiều người, các thửa đất này cụ C2, cụ N2 đã định đoạt xong hiện tại chỉ còn thửa đất số 111 là chưa chia thừa kế nên nguyên đơn không có ý kiến gì với thửa đất số 115 và thửa đất số 112.

Ngày 18/3/2024 những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn có đơn yêu cầu phản tố đề nghị chia di sản đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ 102, diện tích 315m2 do ông T4 đang quản lý sử dụng và thửa đất do ông Nguyễn H quản lý. Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã có yêu cầu người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn là Nguyễn Thị V, Nguyễn Văn K, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L2 nộp tạm ứng án phí đối với yêu cầu phản tố, cung cấp chứng cứ liên quan các thửa đất ông Nguyễn T4, Nguyễn H quản lý nhưng bà V, ông K, bà M, bà L2 không thực hiện, ông Nguyễn Xuân L1 thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí, Tòa án có thông báo nộp chi phí tố tụng khác (xem xét, thẩm định) nhưng ông L1 không thực hiện và không cung cấp chứng cứ liên quan các thửa đất ông Nguyễn T4, Nguyễn H quản lý, do đó HĐXX không có cơ sở xem xét đối với yêu cầu phản tố.

[5] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[5.1] Về công sức quản lý, bảo quản, gìn giữ di sản: Theo nguyên đơn trình bày, từ khi cha mẹ chết 3 anh em ông (Lần, C, H) đều chung sống với nhau tại nhà đất trên, được thời gian thì giữa 3 anh em xảy ra kình cải, ông H bán phần đất cha mẹ cho rồi đi nơi khác sinh sống, ông C cưới vợ ra ở riêng; nhà đất trên giao cho ông L

8

quản lý sử dụng từ năm 1975, được thời gian thì ông L bỏ nhà đất cha mẹ về ở với con, đến năm 2019 con ông L mới về lại nhà sinh sống. Tuy nhiên, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn trình bày ông L sống cùng ông C2, chăm sóc ông C2 trong thời gian đau ốm, bệnh tật rồi qua đời, từ đó đến nay ông L là người quản lý, trông coi nhà đất của cha mẹ, các ông C, ông T4 có gia đình và nhà riêng nên không ai chịu về. Theo biên bản xác minh và xem xét thẩm định tại chỗ thì nhà và đất tại khu phố E, phường P do ông Nguyễn L cùng các con đăng ký kê khai, sinh sống, sau khi ông L chết thì con cháu ông L tiếp tục sinh sống, gìn giữ di sản từ năm 1975 đến nay.

Mặc dù bị đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn không trình bày yêu cầu tính công sức quản lý, bảo quản, giữ gìn di sản vì không đồng ý chia di sản thừa kế. Tuy nhiên, yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất lớn hơn yêu cầu tính công sức quản lý, bảo quản, giữ gìn di sản. Do đó, cấp sơ thẩm tính công sức quản lý, bảo quản, gìn giữ di sản của bị đơn với mức 20% giá trị di sản thừa kế, tương ứng với số tiền 166.689.800đ là phù hợp.

[5.2] Cụ C2 và cụ N2 chết không để lại di chúc, di sản thừa kế là thửa đất số 111, tờ bản đồ số 11, diện tích 270,7m2 tại khu phố E, phường P, thành phố T, có giá trị 833.449.000đ (theo biên bản định giá ngày 09/6/2021) chưa chia, nay ông C yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ C2, cụ N2 theo pháp luật, được cấp sơ thẩm chấp nhận là đúng quy định pháp luật. Sau khi trừ chi phí công sức quản lý, bảo quản, gìn giữ di sản thì giá trị di sản còn lại là 833.449.000đ - 166.689.800đ = 666.759.200đ. Chia cho 5 kỷphần (Nguyễn Thị N1, Nguyễn L, Nguyễn H, Nguyễn Ngọc C, Nguyễn T4), mỗikỷ phần 133.351.840đ. Đến ngày 07/01/2025, nguyên đơn có đơn yêu cấu định giá lại diện tích đất, Tòa án đã thông báo cho nguyên đơn tạm ứng chi phí định giá lại tài sản nhưng nuyên đơn không thực hiện việc ứng tiền lệ phí định giá. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 07/3/2025 nguyên đơn đồng ý với giá đã định ngày 09/6/2021.

[5.2] Trên đất có 01 giếng khoan do bị đơn khoan lấy nước sử dụng nhu cầu sinh hoạt, các bên đương sự không có ý kiến gì về giếng nước này nên không xem xét.

[5.3] Nguyên đơn có yêu cầu chia hiện vật cho bà X (con bà Nguyễn Thị N1) và ông L còn lại chia giá trị cho 03 kỷ phần thừa kế. Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu chia đều giá trị di sản cho các kỷ phần thừa kế.

Theo công văn số 1171/CNVPĐKĐĐ ngày 31 tháng 5 năm 2022 của Chi nhánh Văn phòng Văn ký đất đai thành phố T, thửa đất không đủ điều kiện tách thửa theo khoản 1 Điều 2, quyết định số 25/2021/QĐ-UBND ngày 10/8/2021 của UBND tỉnh P. Mặt khác, ủy ban nhân dân xã H xác nhận “bà Nguyễn Thị X là đối tượng khuyết tật trí tuệ mức độ nặng và đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, không có chồng con”, bà X không thể thực hiện thối lại giá trị cho các kỷ phần khác. Trong khi đó, từ năm 1975 ông L là người quản lý sử dụng nhà đất, sau khi ông L chết con ông là Nguyễn Xuân L1 và cháu ông Nguyễn Thanh T2 sinh sống tại nhà đất trên, do đó cấp sơ thẩm giao nhà, đất cho con ông L (đại diện là ông Nguyễn Xuân L1) nhận hiện vật và thối lại giá trị cho các kỷ phần là phù hợp với thực tế và đúng quy định pháp luật.

9

[5.4] Đối với ông Nguyễn T4: theo các bản trình bày có tại hồ sơ, ông T4 được hưởng một kỷ phần thừa kế, tuy nhiên, ông T4 có ý kiến nếu có chia cho ông thì ông để lại cho ông L để thờ cúng ông bà, việc này là tự nguyện không trái quy định pháp luật nên ghi nhận.

[6] Về án phí: căn cứ khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với mức giá trị phần tài sản được chia trong khối di sản thừa kế.

- Ông Nguyễn Ngọc C, Nguyễn T4 phải chịu án phí đối với phần di sản được nhận nhưng được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

- Người kế thừa quyền nghĩa vụ của bị đơn Nguyễn L: Nguyễn Xuân L1, Nguyễn Thị V (Vô), Nguyễn Văn K, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L2 phải liên đới chịu án phí đối với phần di sản ông L được nhận là 6.668.000₫ (133.351.840₫ x 5% = 6.668.000₫), cấp sơ thẩm tính án phí cả số tiền công quản lý, bảo quản, giữ gìn di sản là không đúng, cần phải sửa án sơ thẩm về án phí. Ông L1 được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nguyễn Thị V (Vô), Nguyễn Văn K, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L2liên đới chịu án phí là 5.334.000đ.

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Nguyễn Thị N1: Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị C1 được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Nguyễn H: Lê Thị V1, Lê Thị T3, Nguyễn Thị M1, Nguyễn Thị M2, Nguyễn Thị M3 phải liên đới chịu án phí đối với phần di sản ông H được nhận 133.351.840₫ x5% = 6.668.000đ, bà V1 được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Lê Thị T3, Nguyễn Thị M1, Nguyễn Thị M2, Nguyễn Thị M3 liên đới chịu 5.334.000₫

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Nguyễn Xuân L1, Nguyễn Thị V(Vô), Nguyễn Văn K, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L2 – Sửa bản án sơ thẩm về phần án phí.

Căn cứ các Điều 26, 35, 147, 157, 161, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 697, 698, 699, 700 BLDS năm 2005; Điều 129 BLDS năm 2015; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

10

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế

1.1. Di sản thừa kế của cụ Nguyễn C2, Ma Thị N2 là thửa đất số 111, tờ bản đồ số 11 (năm 1992), diện tích 270,07m2, tại khu phố E, phường P (theo bảng vẽ mặt bằng hiện trạng nhà và đất ngày 26/4/2021) có giá trị 833.449.000đ (theo biên bản định giá ngày 09/6/2021).

1.2. Giao những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn Nguyễn L nhận hiện vật là quyền sở hữu nhà, vật kiến trúc gắn với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 111, tờ bản đồ số 11 (năm 1992), diện tích 270,07m2, tại khu phố E, phường P.

1.3. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn Nguyễn L được hưởng thừa kế và được tính công sức quản lý di sản là 20% giá trị di sản, tương ứng 166.689.800₫.

1.4. ông Nguyễn T4 không nhận di sản mà để lại cho ông Nguyễn L. Do đó, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn Nguyễn L có nghĩa vụ thanh toán cho các đồng thừa kế là ông Nguyễn Ngọc C, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Nguyễn Thị N1, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Nguyễn Hầu M5 kỷ phần 133.351.840₫.

Khi những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn Nguyễn L thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán cho các đồng thừa kế thì được quyền đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật đất đai.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa trả khoản tiền phải thi hành án thì hàng tháng phải chịu lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ Luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành.

2. Về án phí:

- Ông Nguyễn Ngọc C, Nguyễn T4 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

- Người kế thừa quyền nghĩa vụ của bị đơn Nguyễn L: Nguyễn Xuân L1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị V (Vô), ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị L2 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.334.000đ.

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Nguyễn Thị N1: Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị C1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Nguyễn H: Lê Thị V1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Bà Lê Thị T3, bà Nguyễn Thị M1, bà Nguyễn Thị M2, bà Nguyễn Thị M3 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 5.334.000 đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - TAND Tp Tuy Hoà;

11

  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - Chi cục THADS Tp Tuy Hoà;
  • - Lưu: HSVA.

12

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/DS-PT ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 09/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế giữa ông Nguyễn Ngọc C và ông Nguyễn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger