|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 09/2025/DS - PT Ngày: 03/04/2025 V/v "Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn" |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông: Lê Văn Quân
Các thẩm phán: 1. Bà Lê Thu Hương
2. Ông Phạm Trường Du
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Sơn - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
Bà Nguyễn Thanh Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2023/TLPT-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn".
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 48/2024/DS-ST ngày 30 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa có kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 04/2025/QĐ - PT ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Quách Thị T - Sinh năm 1982
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H– Trợ giúp viên pháp lý chi nhánh S thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Anh Trần Hữu C - Sinh năm 1977
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Trần Hữu H1 - Sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, Thanh Hóa.
- - Anh Lê Ngọc C1 - Sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, Thanh Hóa.
- - Anh Trần Hữu K - Sinh năm 2016
- - Anh Trần Hữu K1 - Sinh năm 2005
- - Chị Trần Thị T1 - Sinh năm 2001
- - Ông Lương Văn H2 - Sinh năm 1971
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, Thanh Hóa.
- - Ông Lê Quang C2 - Sinh năm 1959
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện N, Thanh Hóa.
- - UBND xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- - N nông thôn chi nhánh N1
- - Ban Q
(Nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
*Ý kiến trình bày của chị Quách Thị T là Nguyên đơn: Chị và anh Trần Hữu C đã ly hôn theo bản án số 26/2023/HNGĐ-ST ngày 04/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình giải quyết ly hôn vợ chồng xác định tài sản chung của vợ chồng sẽ do vợ chồng tự thỏa thuận. Tuy nhiên anh chị không thỏa thuận được, vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết chia tài sản chung và công nợ của vợ chồng như sau:
-Về tài sản chung của vợ chồng:
+Đối với đất, bao gồm:
- Một Thửa đất số 146, tờ bản đồ số 12, bản đồ địa chính đo vẽ năm 2007, diện tích đất: 400m², mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn theo GCNQSD đất số: CE 861538 do UBND huyện N cấp ngày 15/12/2016.
- Diện tích đất 1.153,2m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng mua của ông Lê Quang C2.
- Diện tích 4,6 Hecta đất giao khoán của Ban Q cho vợ chồng (Theo hợp đồng giao khoán số 902/HĐK-RPH).
- Diện tích đất 1.490m2 mà vợ chồng mua của nhà ông Lương Văn H2 nhưng chưa làm thủ tục sang tên cho vợ chồng.
+Đối với tài sản trên đất:
- Toàn bộ công trình xây dựng trên đất bao gồm: 3 nhà xây gạch đất nung lợp tôn, nhà tắm, nhà vệ sinh.
- Toàn bộ hoa màu và cây cối trên diện tích 3ha đã được phủ keo 3-7 năm thuộc diện tích đất Ban Q cho vợ chồng.
+Về công nợ chung của vợ chồng:
- Nợ ngân hàng H3 chi nhánh huyện N1 số 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng)
- Nợ tiền hội 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng).
- Vào năm 2022 vợ chồng có bán cho anh Trần Hữu H1 diện tích đất mua bán là 6m mặt đường và 50m chiều sâu với giá 320.000.000₫ (ba trăm hai mươi triệu đồng). Có lập hợp đồng đặt cọc giá trị 220.000.000₫ (hai trăm hai mươi triệu đồng). Tuy nhiên do vợ chồng không thỏa thuận được việc thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng cho anh H1 như cam kết nên anh H1 yêu cầu vợ chồng có trách nhiệm trả lại 220.000.000đ tiền cọc.
- Vào năm 2021 vợ chồng có bán cho cháu Lê Ngọc C1 diện tích đất đất ở với giá 120.000.000đ. Tuy nhiên do vợ chồng không thỏa thuận được việc thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng cho cháu C1 như cam kết nên cháu C1 yêu cầu vợ chồng có trách nhiệm trả lại 120.000.000₫ và lãi suất phát sinh từ thời điểm mua bán đến nay.
Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản hết tổng cộng 10.000.000 đồng. Chị T đề nghị được chịu toàn bộ và đã nộp đủ số tiền trên.
Về án phí: Chị T đã có đơn xin Miễn nộp tiền tạm ứng án phí ngày 01/01/2024. Đồng thời chị thuộc đối tượng là dân tộc Mường đang sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn của huyện nên chị đề nghị Tòa án xem xét cho chị được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
* Phần trình bày của anh Trần Hữu C là Bị đơn trong vụ án:
-Về tài sản chung của vợ chồng:
+Đối với đất, bao gồm:
- 01 Thửa đất số 146, tờ bản đồ số 12, bản đồ địa chính đo vẽ năm 2007, diện tích đất: 400m², hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn theo GCNQSD đất số: CE 861538 do UBND huyện N cấp ngày 15/12/2016.
- 4,6 Hecta đất của Ban Q giao khoán cho vợ chồng và các con (trong đó có 03ha đã trồng keo được khoảng 6-7 năm, còn 1,6ha là lẫn keo 1-2 năm);
- Diện tích đất 1.153,2m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng mua của ông Lê Quang C2.
- Gần 1500m2 đất mua của nhà ông Lương Văn H2 là người cùng thôn nhưng vợ chồng chưa thực hiện các thủ tục để sang tên.
+Đối với tài sản trên đất:
- Toàn bộ công trình xây dựng trên đất bao gồm: 3 nhà xây gạch đất nung lợp tôn, nhà tắm, nhà vệ sinh.
- Toàn bộ hoa màu và cây cối trên diện tích 3ha đã được phủ keo 3-7 năm thuộc diện tích đất Ban Q cho vợ chồng.
+Về công nợ chung của vợ chồng:
- Nợ 150.000.000đ nợ ngân hàng H3 chi nhánh huyện N1.
- Nợ 35.000.000₫ tiền hội.
- Nợ 220.000.000đ tiền cọc là nghĩa vụ phát sinh từ việc vợ chồng không thực hiện cam kết chuyển nhượng đất đối với anh Trần Hữu H1.
- Nợ 120.000.000đ tiền mua đất phải hoàn trả là nghĩa vụ phát sinh từ việc vợ chồng không thực hiện cam kết chuyển nhượng đất đối với anh Lê Ngọc C1.
Về án phí và chi phí tố tụng khác: Anh Trần Hữu C đồng ý với ý kiến của chị T về việc chị T chịu các chi phí tố tụng khác.
*Ý kiến trình bảy của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết vụ án:
1. Anh Trần Hữu H1 trình bày: Năm 2022 giữa anh và anh Trần Hữu C, chị Quách Thị T có thỏa thuận với nhau về việc mua bán diện tích đất ở của anh chị. Diện tích đất mua bán là 6m mặt đường và 50m chiều sâu với giá 320.000.000đ (ba trăm hai mươi triệu đồng). Có lập hợp đồng đặt cọc giá trị 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng) và hai bên thống nhất khi nào vợ chồng anh C, chị T thực hiện xong nghĩa vụ sang tên giấy chứng nhận thì anh sẽ thanh toán hết số tiền còn lại. Anh C, chị T đã nhận đủ số tiền cọc là 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng) của anh. Nay anh C, chị T giải quyết việc phân chia tài sản sau khi ly hôn anh yêu cầu anh Trần Hữu C và chị Quách Thị T phải có nghĩa vụ trả cho anh số tiền cọc mua đất do anh chị không thực hiện đúng như cam kết trong hợp đồng đặt cọc năm 2022. Số tiền đề nghị là 220.000.000₫ (Hai trăm hai mươi triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi. Số tiền anh C chị T phải trả một lần và thời hạn là trước ngày 31/12/2024.
2. Anh Lê Ngọc C1 trình bày: Năm 2023 giữa vợ chồng anh và anh Trần Hữu C, chị Quách Thị T có thỏa thuận với nhau về việc mua bán diện tích đất ở của anh chị. Diện tích đất mua bán là 200m2 (5m mặt đường và 40m chiều sâu). Trong đó đất ở là 100m2. Với giá 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng). Việc mua bán được lập thành văn bản, giấy chuyển nhượng do vợ chồng anh C, chị T viết và hai
bên thống nhất trong vòng 2 năm anh C, chị T có trách nhiệm phải làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh. Tuy nhiên từ ngày viết giấy chuyển nhượng (02/10/2023) đến nay anh chị vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh như cam kết. Nay anh C, chị T đang giải quyết việc phân chia tài sản sau khi ly hôn anh yêu cầu anh Trần Hữu C và chị Quách Thị T phải có nghĩa vụ trả cho anh số tiền mua đất do anh chị không thực hiện đúng như cam kết đã thỏa thuận vào năm 2023. Số tiền đề nghị là 120.000.000₫ (Hai trăm hai mươi triệu đồng) và lãi suất phát sinh của số tiền trên từ thời điểm giao kết hợp đồng (02/10/2021) đến nay theo lãi suất ngân hàng hiện hành. Số tiền anh C chị T phải trả một lần và thời hạn là trước ngày 31/12/2024.
3. Ý kiến của đại diện UBND xã T: Tại công văn số 92/UBND-ĐCXD ngày 19/7/2024 của UBND xã T trả lời một số nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án: Đối với phần diện tích đất của vợ chồng mua của ông Lê Quang C2, sau khi trừ đi 400m2 đất ở đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn lại 1.153,2m2 lâu nay vợ chồng anh C, chị T đang trực tiếp quản lý, dử dụng: Căn cứ sơ đồ hiện trạng khu đất đang tranh chấp và bản đồ địa chính, số mục kê lưu trữ tại xã là thửa 146 tờ bản đồ số 12 bản đồ địa chính đo năm 2007, trên bản đồ và số mục kê là ông Lê Quang C2. Nguồn gốc đất là cắt chuyển từ lâm trường T7 chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho họ gia đình, cá nhân. Phần diện tích đất này không thuộc trong địa giới hành chính xã T (theo bản đồ 364) nên không nằm trong bản đồ quy hoạch xã T, do vậy, không xác định được là đất nằm trong diện quy hoạch đất ở của địa phương hay không.
4. Ý kiến của đại diện ban Q:
Tại công văn số 216/BQL-KHKT ngày 08/5/2024 của Ban Q thể hiện:
Theo hồ sơ giao khoán đất rừng phòng hộ số 902/HĐK-RPH của hộ gia đình ông : Trần Hữu C vợ là bà : Quách Thị T. Địa chỉ: Thôn T, Xã T, huyện T, Tỉnh Thanh Hóa. Ban Q có ý kiến như sau:
Diện tích 4,6 ha đất rừng giao khoán cho hộ gia đình ông: Trần Hữu C vợ là bà: Quách Thị T là đất rừng quy hoạch phòng hộ được Ban Q cũ, nay là Ban Q giao khoán theo Nghị định số 168/2016/NĐ-CP ngày 27/12/2016 của Chính phủ cho gia đình ông C và bà T, diện tích nhận khoán này đã quy hoạch cho bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, nên không được tự ý mua bán, chuyển nhượng hoặc chia chác. Trường hợp được tách, chuyển hồ sơ nhận khoán đất rừng cho các hộ thành viên trong gia đình phải đáp ứng quy định tại Nghị định số 168/2016/NĐ-CP ngày 27/12/2016 của Chính phủ và được sự đồng ý của Giám đốc Ban Q; khi đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên, đơn vị sẽ xem xét và giải quyết theo quy định.
Đối với cây trồng trên đất nhận khoán: Tại lô 3, khoảnh 5, tiểu khu F, diện tích là 3,4 ha là rừng trồng phòng hộ Dự án 327/CP có đầu tư của ngân sách nhà nước, loài cây trồng Muồng đen + keo tai tượng, trong đó cây M đen là cây trồng chính, là cây của nhà nước, cây keo do chủ hộ tự trồng thêm, khi được phép khai thác tỉa thưa cây phù trợ (cây keo) thì hộ gia đình được hưởng lợi theo quy định của pháp luật, còn lại cây M đen phải để lại bảo vệ (trường hợp cây Muồng còn không đủ 600 cây/ha, thì phải để cây keo lại cho đủ mật độ của cây chính và cây phụ là 600 cây/ha, độ tàn che ≥ 0,6 để bảo vệ và phát triển rừng theo quy định). Do đó việc chia sản phẩm hưởng lợi từ khai thác cây phù trợ trên diện tích 3,4 ha đất rừng phòng hộ này là việc của hộ gia đình ông: Trần Hữu C vợ là bà Quách Thị T thỏa thuận.
Tại lô 47e, khoảnh 5 và lô A, khoảnh 6, tiểu khu F – diện tích là 1 ha, trước đây là đất trông cây nông nghiệp, sau này chủ hộ đã chuyển sang trồng cây keo tai tượng bằng nguồn vốn của hộ gia đình tự đầu tư 100%; khi được phép khai thác thì hộ gia đình được hưởng lại theo quy định của pháp luật. Do đó việc chia tài sản trên diện tích 1,2 ha đất rừng trồng này là việc của hộ gia đình ông: Trần Hữu C vợ là bà Quách Thị Tình T2 thỏa thuận.
Về nguyên tắc thu hoạch rừng phòng hộ là mỗi lần thu hoạch được ½ và phải thu hoạch theo băng. Thu hoạch xong phải có trách nhiệm trùng tu chăm sóc đất. Việc thu hoạch phải được sự cho phép của Ban Q và có quy trình cụ thể. Quan điểm của B là chị T chỉ có quyền hưởng lợi từ hoa màu trên đất từ trước thời điểm ly hôn với anh C (tháng 8/2023).
Về đất đã giao khoán cho hộ gia đình, có nguồn gốc từ ông C3 (bố đẻ anh C) đã chuyển giao từ thời điểm ông C3 còn sống, giao cho cả con và cháu là công cụ sản xuất, tư liệu sản xuất trong quá trình sinh sống). Không phải là tài sản cá nhân thuộc sở hữu riêng của vợ chồng. Ban quản lý đã giao từ thời ông Trần Hữu C3 và sau đó tách sổ cho anh Trần Hữu C. Diện tích giao khoán đó phải có người trông nom chăm sóc và quản lý. Từ khi ly hôn cô T không có mặt để quản lý chăm sóc. Nếu hai bên không đảm bảo về việc quản lý thì Ban Quản lý sẽ phải thu hồi.
Về quyền lợi hưởng hoa màu trên đất giao khoán, quan điểm của BQL là phải chia đều cho các tên trong HĐ giao khoán. Còn về trách nhiệm làm việc trực tiếp thì B sẽ phải làm việc trực tiếp với cá nhân có tên số 1 trong HĐ, còn nếu cá nhân có tên số 1 không thể làm việc thì uỷ quyền cho cá nhân số 2 đến số 5 lần lượt.
5. Ý kiến của Ngân hàng H3 chi nhánh huyện N1:
Tại công văn số 351/NHHONTH-NT ngày 23/4/2024 của Ngân hàng H3 chi nhánh N2 thể hiện: Ngày 27/12/2022 Ông Trần Hữu C; Sinh năm 1977. Địa chỉ: thôn
T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cùng A - Chi nhánh huyện N2 ký kết Hợp đồng tín dụng số 3528- LAV-202205057; Số tiền cho vay tối đa: 150.000.000₫ (Bằng chữ: Một trăm năm mươi triệu đồng); Thời gian vay vốn: 24 tháng. Đến ngày 06/01/2023 Ông Trần Hữu C được A Chi nhánh huyện N số tiền: 150.000.000₫ (Bằng chữ: Một trăm năm mươi triệu đồng). Dư nợ hiện tại: 150.00.000₫.
Để đảm bảo cho quyền lợi các bên tham gia Hợp đồng tín dụng nêu trên A - Chi nhánh huyện N1 đề nghị Tòa án Nhân dân huyện Như Thành phân rõ trách nhiệm thống nhất phương án trong việc trả nợ khoản vay mà ông Trần Hữu C là người đại diện cho A chi nhánh huyện N1 trước khi ly hôn.
Tại phiên hòa giải ngày 22/8/2024, đại diện Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện H3 trình bày quan điểm: Anh C lâu nay là người trực tiếp đứng ra trả lãi với ngân hàng, trực tiếp làm việc với ngân hàng nên đề xuất anh T6 tiếp tục trực tiếp làm việc và có trách nhiệm thanh toán lãi và gốc cho ngân hàng.
*Kết quả xem xét, thẩm định và định giá tài sản đang tranh chấp ngày 30/5/2024 như sau:
- Đối với đất:
1. Thửa đất số 146, tờ bản đồ số 12, bản đồ địa chính do về năm 2007, diện tích đất: 400m2, hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất: Đất ở nông thôn theo GCNQSDĐ đất số: CE 861538 do UBND huyện N cấp ngày 15/12/2016; Giá trị khu đất: Giá nhà nước: 400m² x 250.000₫ x 1,5 = 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng); Giá trị trường: 400m² (rộng 20m x 30.000.000đ/m) = 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng)
- Đối với tài sản: Tổng tài sản có trên đất gồm: các công trình xây dựng, cây cối. Tổng giá trị nguyên giá vật kiến trúc: 443.872.530₫ (Bốn trăm bốn mươi ba triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm ba mươi đồng). Tổng trị còn lại: 46.838.043₫ (Bốn mươi sáu triệu tám trăm ba mươi tám nghìn không trăm bốn mươi ba đồng)
- Cây cối hoa lợi: Tổng giá trị giá trị toàn bộ cây cối trên diện tích đất hộ gia đình: 295.522.000 (Hai trăm chín mươi lăm triệu năm trăm hai mươi hai nghìn đồng).
* Tại phiên tòa sơ thẩm: Anh C chị T đã thỏa thuận được một số tài sản chung đã ghi nhận trong bản án. Một số tài sản anh chị không thỏa thuận được tiếp tục đề nghị HĐXX phân chia theo quy định. Cụ thể:
-Đối với diện tích đất 1.153,2m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng mua của ông Lê Quang C2.
-Đối với phần diện tích đất 1.496m2 đất trồng cây hàng năm mua của nhà anh Lương Văn H2 thôn T, xã T, huyện N.
-Đối với tài sản trên đất: Toàn bộ hoa màu và cây cối trên đất phần diện tích đất 3,0 ha giao khoán của Ban Q (bao gồm keo 3-5 năm và keo 5-7 năm). Chị T anh C đề nghị chia theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2023/DS-ST ngày 30 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:
Căn cứ vào: khoản 2 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147, Điều 212, Điều 213, Điều 227; Điều 235 và Điều 246 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều: 28; 29; 33; 34; 38; 59; 62; của Luật HN và GĐ năm 1014; Điều 212; Điều 213; Điều 219 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ Điều 6; Điều 12; khoản 1 Điều 24; Điều 26; các điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia tài sản sau ly hôn của Quách Thị T và anh Trần Hữu C. Cụ thể:
1. Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên đối với các nội dung đã thỏa thuận được, bao gồm:
- Chia đôi 400m2 diện tích đất ở thuộc thửa đất số 01 Thửa đất số 146, tờ bản đồ số 12, GCNQSD đất số: CE 861538 do UBND huyện N cấp ngày 15/12/2016. Đặc điểm phần đất của mỗi bên được chia như sau:
+ Phần diện tích đất chia cho chị Quách Thị T là 200m2 nằm ở phía Tây khu đất, có giá trị 300.000.000₫ (ba trăm triệu đồng). Đặc điểm ranh giới như sau: Phía bắc có tổng chiều dài 10m, giáp đường tỉnh lộ 520; Phía nam có tổng chiều dài 10m, giáp phần diện tích đất ông C2 đã bán cho vợ chồng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Phía đông có tổng chiều dài 20m giáp phần đất bà Lê Thị T3; Phía tây có tổng chiều dài 20m giáp phần đất ông Trần Hữu C được chia. (Có sơ đồ chi tiết kèm theo).
+ Phần diện tích đất chia cho anh Trần Hữu C là 200m2 nằm ở phía Đông khu đất, có giá trị 300.000.000₫ (ba trăm triệu đồng). Đặc điểm ranh giới như sau: Phía bắc có tổng chiều dài 10m; giáp đường tỉnh lộ 520; Phía nam có tổng chiều dài 10m giáp phần diện tích đất ông C2 đã bán cho vợ chồng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Phía đông có tổng chiều dài 20m giáp phần đất chị T được chia; Phía tây có tổng chiều dài 20m giáp phần diện tích đất ông C2
đã bán cho vợ chồng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (Có sơ đồ chi tiết kèm theo).
+ Đối với nhà ở gắn liền với đất bao gồm nhà g1, g2 và g3 theo sơ đồ. Nếu trên phần diện tích đất chị T anh C được chia còn công trình trên đất thì hai bên thống nhất dỡ phá công trình để trả đúng diện tích đất cho nhau. Công trình trên đất nằm trên diện tích đất của ai thì người đó được quyền sở hữu.
Quá trình sử dụng anh C, chị T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
- Tạm giao cho anh C trực tiếp quản lý toàn bộ phần diện tích 4,6 Hecta đất rừng do Ban Q giao khoán. Anh C có trách nhiệm đưa cho chị T 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng), đồng thời có trách nhiệm liên hệ với ban Q để thực hiện hồ sơ giao khoán theo quy định.
- Chia đôi công nợ của vợ chồng với Ngân hàng H3 chi nhánh huyện N1 số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Anh C có nghĩa vụ thanh toán hợp đồng, trả cả gốc và lãi cho ngân hàng. Chị T phải trả cho anh C số tiền 75.000.000₫ (Bảy mươi lăm triệu đồng).
Anh C có có nghĩa vụ trả khoản nợ hội 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng).
- Chia đôi khoản tiền phải trả của vợ chồng đối với anh Trần Hữu H1 là 220.000.000₫ (Hai trăm hai mươi triệu đồng). Chị T có nghĩa vụ trả 110.000.000₫ (Một trăm mười triệu đồng), anh C có nghĩa vụ trả 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng), Chị T và anh C có nghĩa vụ kết hợp trả hết số tiền một lần cho anh H1 trong thời hạn trước 31/12/2024.
- Chia đôi khoản tiền phải trả của vợ chồng đối với cháu Lê Ngọc C1 và Lê Thị M1 là 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng). Chị T có nghĩa vụ trả 80.000.000₫ (Tám mươi triệu đồng), anh C có nghĩa vụ trả 80.000.000₫ (T4 mươi triệu đồng), anh C chị T có nghĩa vụ kết hợp trả hết số tiền 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng) một lần cho anh C1, chị M1 trong thời hạn trước 31/12/2024.
2. Về phân chia phần tài sản không thỏa thuận được của vợ chồng. Cụ thể:
- Giao toàn bộ phần diện tích đất 1.490m2 thuộc thửa đất số 65, Tờ bản đồ số 32 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 978540 mang tên Lương Văn H2 do UBND huyện N cấp ngày 01/8/2006) cho anh Trần Hữu C sở hữu. Buộc anh C phải trả cho chị T số tiền 16.000.000₫ (Mười sáu triệu đồng), tương ứng ½ giá trị khu đất vợ chồng mua của anh H2 vào năm 2015. Quá trình anh C quản lý, sử dụng anh C
phải tự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Chị T có trách nhiệm phối hợp cùng anh C thực hiện các thủ tục sau khi đã nhận đủ số tiền.
- Tạm giao cho anh C, chị T mỗi người ½ diện tích đất 1,153,2m2 (chưa trừ hành lang) là phần diện tích đất đã mua của ông Lê Quang C2 nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 146, tờ bản đồ số 12.
+ Phần diện tích đất tạm giao cho anh Trần Hữu C là 576,6m² (chưa trừ hành lang) có đặc điểm ranh giới như sau: Phía bắc có tổng chiều dài 12,1m; giáp đất đường tỉnh lộ 520. Phía nam gồm 2 đoạn thẳng gấp khúc có chiều dài 5m + 15,28m = 20,28m, giáp phần diện tích đất giao khoán của Ban Q. Phía đông gồm 2 đoạn thẳng gấp khúc có chiều dài 20m + 16,24m = 36,24m giáp phần đất được tạm giao của chị Quách Thị T. Phía tây có tổng chiều dài 36,93m giáp đường rộng 4m nhà ông Lê Văn T5. (Có sơ đồ chi tiết kèm theo)
+ Phần diện tích đất chia cho chị Quách Thị T là 576,6m² (chưa trừ hành lang) có đặc điểm ranh giới như sau: Phía bắc có tổng chiều dài 12,1m; giáp đất đường tỉnh lộ 520. Phía nam có tổng chiều dài 22,58m giáp phần diện tích đất giao khoán của Ban Q. Phía đông gồm 3 đoạn nối liền vuông góc với nhau có chiều dài 6,48m + 20m + 20m = 46,48m, giáp phần đất ở anh C, chị T được chia và một phần đất của bà Lê Thị T3. Phía tây gồm 2 đoạn thẳng gấp khúc có chiều dài 20m + 16,24m = 36,24m, giáp phần đất được tạm giao của anh Trần Hữu C. (Có sơ đồ chi tiết kèm theo)
Nếu trên phần diện tích đất chị T anh C được tạm giao còn công trình trên đất thì hai bên thống nhất dỡ phá công trình để trả đúng diện tích đất cho nhau. Công trình trên đất nằm trên diện tích đất của ai thì người đó được quyền sở hữu. Quá trình sử dụng anh C, chị T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
- Giao cho anh C trực tiếp thu hoạch toàn bộ 3 ha keo 3-7 năm tuổi thuộc phần diện tích đất Ban Q. Anh C có trách nhiệm trả cho chị T 110.500.000₫ (một trăm mười triệu năm trăm đồng) tương đương ½ giá trị diện tích keo nói trên theo biên bản định giá tài sản ngày 25/5/2024.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Chị Quách Thị T phải chịu 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Số tiền này được trừ vào tiền tạm ứng chi phí tố tụng mà chị T đã nộp là 10.000.000 đồng. Chị T đã nộp đủ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Quách Thị T. Anh Trần Hữu C phải chịu 8.370.951 đồng án phí có giá ngạch chia tài sản theo quy định tại Điều 6;
Điều 12; khoản 1 Điều 24; Điều 26; các điểm b, e khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
* Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa kháng nghị phúc thẩm, tại Quyết định kháng nghị số 12/QĐ-VKS-DS ngày 30 tháng 10 năm 2025 với nội dung:
Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2023/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đã có những vi phạm về thủ tục tố tụng và giải quyết nội dung vụ án như sau:
1. Thu thập chứng cứ chưa đầy đủ. Theo hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự xác định tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của anh Trần Hữu C và chị Quách Thị T gồm:
- + 01 Thửa đất số 146, tờ bản đồ số 12, bản đồ địa chính đo vẽ năm 2007. diện tích đất: 400m², mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn theo GCNQSD đất số: CE 861538 do UBND huyện N cấp ngày 15/12/2016.
- + Diện tích đất 1.153,2m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng mua của ông Lê Quang C2.
- + Diện tích đất 1.490m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng mua của ông Lương Văn H2.
- + Diện tích 4,6 ha đất giao khoán của Ban Q cho vợ chồng (Theo hợp đồng giao khoán số 902/HĐK-RPH).
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án sơ thẩm chỉ tiến hành xem xét, thẩm định và định giá tài sản diện tích đất tại thửa số 146, tờ bản đồ số 12, bản đồ đo vẽ năm 2007, diện tích 400m2 và tài sản là nhà ở, công trình phụ, cây cối hoa lợi trên diện tích đất này mà không tiến hành thẩm định, định giá đối với đất và các công trình trên diện tích đất 1.153,2m2 (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) anh C, chị T mua của ông Lê Quang C2, diện tích đất 1.490m2 (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) anh C, chị T mua của ông Lương Văn H2 và diện tích 4,6 ha đất giao khoán của Ban Q cho vợ chồng (Theo hợp đồng giao khoán số 902/HĐK-RPH). Việc Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành thẩm định và định giá đối với những tài sản này là thiếu sót, vi phạm trong việc thu thập tài liệu chứng cứ. Từ đó, không có căn cứ để xác định đúng, đầy đủ giá trị tài sản chung của anh C, chị T nên không xác định được giá trị tài sản mà mỗi bên được chia để buộc họ phải chịu án phí có giá ngạch tương đương với phần tài sản họ được nhận trên thực tế.
2. Vi phạm trong việc tính án phí:
Bản án sơ thẩm nhận định: Tổng giá trị tài sản tranh chấp đề nghị Tòa án giải quyết theo biên bản định giá tài sản (đất ở, nhà, keo) là 867.838.043đ. Tổng số nợ chung của vợ chồng là 565.000.000đ. Còn lại mỗi người được nhận 151.419.022đ. Ngoài ra, anh C phải chịu án phí đối với 16.000.000₫ phải trả cho chị T nên tổng giá trị tài sản anh C phải chịu án phí là 167.419.022₫ nên chỉ buộc
anh C phải chịu 8.370.951 đồng án phí có giá ngạch chia tài sản là thiếu sót. Bởi lẽ: Theo quy định tại điểm b, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội thì: “đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản họ được chia sau khi trừ đi giá trị tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba; các đương sự phải chịu một phần án phí ngang nhau đối với phần tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba theo quyết định của tòa án”. Bản án sơ thẩm ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong việc phân chia công nợ chung với tổng số nợ chung của vợ chồng là 565.000.000₫ nhưng lại không buộc anh C chịu án phí đối với phần công nợ mà anh C đã thỏa thuận nhận trả nợ là vi phạm điểm b, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326.
Ngoài ra, theo quy định tại điểm e, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 thì: “Trường hợp các đương sự có tranh chấp về việc chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng, Tòa án tiến hành hòa giải, các đương sự thống nhất thỏa thuận được về việc phân chia một số tài sản chung sản chung, còn một số tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản và nghĩa vụ về tài chung không thỏa thuận được thì các đương sự vẫn phải chịu án phí đối với việc chia toàn bộ tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng".
Như vậy, trong vụ án này, mặc dù anh C và chị T đã thỏa thuận được về việc phân chia một số tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung nhưng vẫn phải chịu án phí đối với việc chia toàn bộ tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng.
Việc bản án sơ thẩm chỉ buộc anh Trần Hữu C chỉ phải chịu 8.370.951 đồng án phí có giá ngạch chia tài sản là thiếu sót, vi phạm trong việc tính án phí, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước.
Viện kiểm sát quyết định: Kháng nghị toàn bộ Bản án sơ thẩm số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng áp dụng khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng Dân sự, hủy bản án nói trên, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Như Thanh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
*Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng nên không có ý kiến tại phiên toà phúc thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của đương sự, tại cấp phúc thẩm đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung và quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa chấp nhận kháng nghị xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng áp dụng
khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng Dân sự, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Như Thanh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
-Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn: Đề nghị toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá giữ nguyên bản án sơ phẩm vì sau khi tuyên án sơ thẩm các đương sự đều thống nhất, không có kháng cáo đối với nội dung mà toà án sơ thẩm đã tuyên.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Quách Thị T khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn với anh Trần Hữu T6 là Bị đơn có địa chỉ tại Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, nên đây là vụ án tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự không thỏa thuận, hòa giải được với nhau nội dung tranh chấp, nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện và VKS vẫn giữ nguyên nội dung kháng nghị, nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng nghị:
2.1. Về nguồn gốc tài sản các đương sự thống nhất được vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm có các tài sản sản:
- + 01 Thửa đất số 146, tờ bản đồ số 12, bản đồ địa chính đo vẽ năm 2007. diện tích đất: 400m², mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn theo GCNQSD đất số: CE 861538 do UBND huyện N cấp ngày 15/12/2016.
- + Diện tích đất 1.153,2m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng mua của ông Lê Quang C2.
- + Diện tích đất 1.490m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng mua của ông Lương Văn H2.
- + Diện tích 4,6 ha đất giao khoán của Ban Q cho vợ chồng (Theo hợp đồng giao khoán số 902/HĐK-RPH).
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án sơ thẩm chỉ tiến hành xem xét, thẩm định và định giá tài sản diện tích đất tại thửa số 146, tờ bản đồ số 12, bản đồ đo vẽ năm 2007, diện tích 400m2 và tài sản là nhà ở, công trình phụ, cây cối hoa lợi trên diện tích đất này mà không tiến hành thẩm định, định giá đối với đất và các công trình trên diện tích đất 1.153,2m2 (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) của anh C, chị T mua của ông Lê Quang C2, diện tích đất 1.490m2 (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) anh C, chị T mua của ông Lương Văn H2 và diện tích 4,6 ha đất giao khoán của Ban Q cho vợ chồng (Theo
hợp đồng giao khoán số 902/HĐK-RPH). Việc Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành thẩm định và định giá đối với những tài sản này là thiếu sót, vi phạm trong việc thu thập tài liệu chứng cứ. Từ đó, không có căn cứ để xác định đúng, đầy đủ giá trị tài sản chung của anh C, chị T nên không xác định được giá trị tài sản mà mỗi bên được chia để buộc họ phải chịu án phí có giá ngạch tương đương với phần tài sản họ được nhận trên thực tế.
HĐXX phúc thẩm xét thấy:
Cấp sơ thẩm chưa thu thập tài liệu chứng cứ tại cơ quan chuyên môn có thẩm quyền để xác định về loại đất của anh C, chị T mua của ông C2 và ông H2. Đối với thửa đất diện tích đất 1.153,2m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng mua của ông Lê Quang C2 chưa xác minh đầy đủ nguồn gốc đất, loại đất, giá trị đất; Diện tích đất 1.490m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh C, chị T mua của ông Lương Văn H2 không xác định được giá trị đất, vị trí đất nhưng vẫn chia cho các đương sự là chưa phù hợp quy định của pháp luật. Dẫn đến xác định nghĩa vụ thi hành án phí về tài sản và công nợ chưa chính xác ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các đương sự và của nhà nước.
Tại phiên toà sơ thẩm Chị T, anh C đề nghị giải quyết về tài sản trên đất là toàn bộ hoa màu và cây cối trên đất phần diện tích đất 3,0 ha giao khoán của Ban Q bao gồm keo 3-5 năm và keo 5-7 năm nhưng khi định giá tài sản trên đất cấp sơ thẩm chưa tách cụ thể giá trị tài sản trên từng thửa đất lâm nghiệp để làm căn cứ chia theo quy định.
Về quyền lợi người tham gia tố tụng khác, đối với phần đất giao khoán cho hộ gia đình bao gồm cả các thành viên trong gia đình anh C, chị T nhưng các thành viên không có ý kiến việc việc đóng góp công sức trên đất rừng giao khoan mà cấp sơ thẩm đã chia là vi phạm quyền lợi của thành viên hộ gia đình tham gia giao khoán đất rừng.
Do không định giá tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nên khi trừ đi tài sản thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ ba không đúng. Đối với phần các đương sự thoả thuận được với nhau tại phiên toà, còn một số tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung không thoả thuận được thì các đương sự vẫn phải chịu toàn bộ án phí đối với việc chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điểm c Khoản 5 và Đ b Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U. Đối
[3] Từ các phân tích nêu trên, việc thu thập và đánh giá chứng cứ ở cấp sơ thẩm chưa đầy đủ và không thể khắc phục được tại phiên toà phúc thẩm, do đó Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Thanh Hóa, hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Sẽ xem xét khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
Về án phí dân sự phúc: Các đương sự không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ khoản 3 Điều 308; khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 12/2025/QĐ-VKS-DS ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
- Hủy bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.
- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa giải quyết lại theo thủ tục chung.
- Về án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm;
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 09/2025/DS - PT ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn
- Số bản án: 09/2025/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn
