Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09 /2024/HNGĐ-PT.

Ngày: 23-4-2024.

V/v: "Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp

Các thẩm phán: Ông Thái Văn Hà

Ông Nguyễn Thanh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định:

Bà Lê Thị Vân- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân & gia đình thụ lý số: 07/2024/TLPT-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn”.

Do bản án Hôn nhân & gia đình sơ thẩm số: 576/2023/HNGĐ-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:08/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1973

Địa chỉ: Khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: Anh Trương Văn L, sinh năm 1970

Địa chỉ: Khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã H.

Đại diện: Bà Đặng Thị H- Giám đốc Phòng giao dịch.

Người kháng cáo: Bị đơn anh Trương Văn L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Trương Văn L tự nguyện sống chung như vợ chồng từ năm 1995, đến ngày 22/4/2021 mới đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã H. Do bất đồng quan điểm, nên trong quá trình sống chung vợ chồng thường xuyên kình cãi, anh L đánh đập chị có lần phải nhập viện điều trị, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện tại chị và anh L không còn sống chung. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu ly hôn anh Trương Văn L để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị và anh Trương Văn L có hai con chung tên là Trương Thị Tuyết T1, sinh năm 1995 và Trương Đăng K, sinh năm 1998. Hai con đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/10/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Trương Văn L trình bày:

Về thời gian sống chung và điều kiện ký kết hôn như chị Lê Thị T trình bày là đúng. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do tính cách không hợp nhau, chị T thường xuyên vắng nhà, đi sớm về khuya, anh gọi điện thì chị T chặn cuộc gọi, không nghe máy nên đôi lúc tức giận có đánh nhẹ, không gây thương tích gì cho chị T. Anh thừa nhận cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện tại anh và chị T không còn sống chung với nhau. Nay, chị T yêu cầu ly hôn anh không đồng ý vì tài sản chung giữa anh và chị T chưa thoả thuận xong, khi nào thỏa thuận giải quyết xong thì anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và chị T có hai con chung, họ tên và ngày tháng năm sinh của hai con thống nhất như bà T đã trình bày, hiện nay hai con đã thành niên và có khả năng lao động, nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, anh L không yêu cầu Toà án giải quyết chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Tại phiên tòa, anh L yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết tài sản chung, nợ chung của vợ chồng và đề nghị chị T phải mang tài sản chung của vợ chồng về nhà để anh yêu cầu Toà giải quyết; đối với nợ chung, anh cho rằng vợ chồng có nợ nhiều người nhưng anh không nhớ rõ cụ thể, yêu cầu Tòa xem xét giải quyết.

Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số:576/2023/HNGĐ-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 200, 202, 244, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị T và anh Trương Văn L.
  2. Về nuôi con chung: Có hai con chung Trương Thị Tuyết T1, sinh năm 1995 và Trương Đăng K, sinh năm 1998. Hai con đã thành niên và có khả năng lao động nên không giải quyết.
  3. Về chia tài sản chung; nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết; yêu cầu của bị đơn tại phiên tòa không phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét giải quyết.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/01/2024, bị đơn anh Trương Văn L kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, lý do chưa giải quyết tài sản chung và nợ chung của vợ chồng là vi phạm thủ tục tố tụng. Ngày 21/3/2024 anh Trương Văn L bổ sung tài liệu chứng cứ là Hợp đồng tín dụng số: 21/2023/HĐTD ngày 20/6/2023.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn anh Trương Văn L giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Tại bản tự khai ngày 28/3/2024 và tại phiên tòa, bà Đặng Thị H là đại diện Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã H trình bày: Hiện tại, vợ chồng chị Lê Thị T và anh Trương Văn L có vay và còn nợ Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã H (gọi tắc là Ngân hàng) số tiền 390.437.655 đồng, trong đó: Hợp đồng tín dụng số: 21/2023/HĐTD ngày 20/6/2023 nợ gốc 350.000.000đồng, nợ lãi 368.219đồng; Hợp đồng tín dụng số: 6600000720852858/2021/HĐ-TD ngày 18/6/2021 nợ gốc 40.000.000 đồng, nợ lãi 69.436 đồng(Tính đến ngày 27/3/2024). Nay chị T anh L ly hôn, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết buộc chị T, anh L có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng là 390.437.655 đồng theo 2 hợp đồng tín dụng nêu trên trong vụ án này.

Chị Lê Thị T trình bày: Chị thừa nhận chị và anh L có vay và hiện còn nợ Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã H 390.437.655 đồng(gốc: 390.437.655 đồng, lãi:437.655 đồng) theo 02 hợp đồng tín dụng như đại diện Ngân hàng trình bày là đúng. Do chỉ yêu cầu ly hôn, không yêu cầu chia tài sản chung, giải quyết trả nợ chung nên không khai còn nợ Ngân hàng số tiền còn nợ trên.

Anh Trương Văn L trình bày: Anh thừa nhận anh và chị T có vay và còn nợ Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã H theo Hợp đồng tín dụng số: 21/2023/HĐTD ngày 20/6/2023 số tiền là 350.368.219 đồng (nợ gốc: 350.000.000đồng, nợ lãi 368.219đồng). Còn khoản nợ gốc 40.000.000 đồng và tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng số: 6600000720852858/2021/HĐ-TD ngày 18/6/2021 anh không vay, không biết, nên là nợ riêng của chị T. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, anh có khai vợ chồng có nợ chung, nhưng Tòa không hỏi, không yêu cầu cung cấp hợp đồng, nên sau khi kháng cáo mới cung cấp hợp đồng tín dụng nêu trên.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật TTDS, không chấp nhận kháng cáo của anh Trương Văn L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Kháng cáo của bị đơn anh Trương Văn L là trong thời hạn, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của anh Trương Văn L với yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, lý do chưa giải quyết tài sản chung và nợ chung của vợ chồng là vi phạm thủ tục tố tụng, HĐXX xét thấy:

Tại phiên tòa sơ thẩm: anh Trương Văn L yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung của vợ chồng; còn chị Lê Thị T cho rằng: Do chị chỉ yêu cầu ly hôn, không yêu cầu giải quyết nợ chung nên không khai còn nợ chung của Ngân hàng. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định yêu cầu của anh L tại phiên tòa không phù hợp quy định pháp luật nên không có cơ cở xem xét giải quyết là chưa thỏa đáng. Bởi vì, nợ chung là nghĩa vụ về tài sản của chị T và anh L đối với Ngân hàng, nên khi chị T anh L ly hôn phải có nghĩa vụ trả nợ chung, tại phiên tòa anh L đã khai có nợ và yêu cầu giải quyết. Mặc khác, Ngân hàng mới là bên có quyền yêu cầu hoặc không yêu cầu giải quyết về khoản nợ chung này, nên việc chị T không yêu cầu giải quyết nợ chung là không phù hợp. Lẽ ra, tại phiên tòa sơ thẩm cần hỏi, đối chất để làm rõ chị T, anh L có hay không có nợ chung, nợ ai, địa chỉ, số nợ là bao nhiêu, tài liệu chứng cứ (nếu có) là căn cứ tạm ngừng phiên tòa (nếu có nợ chung), để tiến hành xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ theo Điều 259 Bộ luật TTDS, đưa bên có quyền về tài sản là Ngân hàng tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên Tòa phúc thẩm: Chị T thừa nhận còn nợ Ngân hàng 390.437.655 đồng, anh L chỉ thừa nhận còn nợ chung Ngân hàng là 350.368.219 đồng. Còn đại diện Ngân hàng yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết buộc chị T, anh L có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng số tiền là 390.437.655 đồng theo các hợp đồng tín dụng trong vụ án này. Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết cho chị T anh L ly hôn nhưng không đưa Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã H tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để giải quyết về khoản nợ chung là có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng.

Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của anh Trương Văn L, hủy Bản án sơ thẩm số 576/2023/DS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án thị xã Hoài Nhơn giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[3] Về án phí sơ thẩm sẽ được xem xét khi vụ án được giải quyết lại.

[4] Về án phí Hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Kháng cáo của anh Trương Văn L được chấp nhận, nên anh L không phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình phúc thẩm phúc thẩm. Trả lại cho anh L tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

[5] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Trương Văn L, giữ nguyên bản án sơ thẩm là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 308, khoản 2 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự;

Tuyên xử:

  1. Hủy bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 576/2023/NHGĐ-ST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm sẽ được xem xét khi vụ án được giải quyết lại.
  3. Về án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm: Anh Trương Văn L không phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình phúc thẩm. Trả lại cho Trương Văn L 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006107 ngày 11/01/2024của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài nhơn, tỉnh Bình Định.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS thị xã Hoài Nhơn;
  • - TAND thị xã Hoài Nhơn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HNGĐ-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về hôn nhân & gia đình (ly hôn)

  • Số bản án: 09/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân & gia đình (Ly hôn)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger