Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HS-ST

Ngày: 27-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Sùng A Sa

Bà Nguyễn Thị Như

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Trương Văn Thuỷ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu là điểm cầu trung tâm xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2024/TLST- HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn V;

Sinh ngày 06/8/1977 tại huyện T, tỉnh Lai Châu;

Nơi cư trú: Bản C, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn L (đã chết) và bà Vàng Thị L1, sinh năm 1951; Bị cáo có vợ thứ nhất là Hoàng Thị P (đã chết), vợ thứ hai là Chè Thị Q, sinh năm 1980 và có 03 con; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 26/5/2024, tạm giam từ ngày 04/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).

- Người làm chứng:

  • 1. Anh Lù Văn G.
  • 2. Anh Nùng Văn N.
  • 3. Anh Nùng Văn T.
  • 4. Anh Tòng Văn N1.

(Đều vắng mặt không có lý do chính đáng).

* Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, gồm: Bị cáo: Lường Văn V. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 26/5/2024, Lường Văn V thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết đi từ nhà tại bản C, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu lên bản N, xã P, huyện T, mục đích tìm mua Heroine để sử dụng và bán. Tại bản Noong Thăng, Lường Văn V bảo người xe ôm đứng ở ngoài đường đợi, còn Lường Văn V một mình bộ vào trong bản Noong Thăng, xã P thì gặp và mua được từ một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu hồng) với số tiền 100.000 đồng. Mua được H, Lường Văn V cầm trong lòng bàn tay trái rồi tiếp tục đi xe ôm quay về. Khi đến Cây xăng thuộc địa phận xã M, huyện T thì Lường Văn V xuống xe và đi bộ mang Heroine về nhà mình tại bản Co Phày, xã M, huyện T chia thành 03 gói nhỏ, từng gói đều được gói bằng mảnh nilon màu xanh rồi cất giấu trên chiếc hòm trong phòng ngủ của mình không cho ai biết. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi Lường Văn V đang ở nhà thì có Nùng Văn N (sinh năm 1994; trú tại bản C, xã M huyện T) và Lù Văn G (sinh năm 1996; trú tại bản C, xã M huyện T) đến nhà gặp Lường Văn V. Lù Văn G trực tiếp hỏi mua H và đưa cho Lường Văn V một tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, Nùng Văn N đứng bên cạnh cũng đưa cho Lường Văn V một tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Lường Văn V nhận tổng số tiền 200.000 đồng của Lù Văn G và Nùng Văn N rồi đi vào buồng ngủ lấy 02 gói Heroine ra bán cho Lù Văn G và Nùng Văn N mỗi người một gói. Mua được H, Lù Văn G và Nùng Văn N tự ý mang xuống gầm sàn nhà Lường Văn V sử dụng hết. Lường Văn V không biết việc G và N sử dụng Heroine tại gầm sàn nhà mình. Đến 16 giờ cùng ngày, Nùng Văn N và Lù Văn G được Công An xã M, huyện T mời lên để test kiểm tra ma túy theo định kỳ vì là đối tượng nằm trong danh sách quản lý người nghiện và người sử dụng trái phép chất ma túy do Công an xã M, huyện T quản lý. Tại đây, Nùng Văn N và Lù Văn G khai nhận có sử dụng Heroine mua của Lường Văn V. Căn cứ lời khai của Nùng Văn N và Lù Văn G, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp địa điểm, chỗ đối với Lường Văn V. Quá trình giữ người và khám xét, thu giữ của Lường Văn V số tiền 390.000 đồng, Lường Văn V khai trong đó có 290.000 đồng do bán Heroine mà có.

Tại Cơ quan điều tra, Lường Văn V còn tự thú thêm hành vi phạm tội như sau: Sau khi bán Heroine cho Nùng Văn N và Lù Văn G, khoảng 15 giờ cùng ngày 26/5/2024, Lường Văn V đang ở nhà bản Co Phày, xã M, huyện T thì có Nùng Văn T (sinh năm 1997; trú bản N, xã M, huyện T) và Tòng Văn N1 (sinh năm 1989; trú tại bản C, xã M, huyện T) đến nhà gặp Lường Văn V. Nùng Văn T trực tiếp hỏi Lường Văn V mua Heroine, T đưa cho V số tiền 90.000 đồng. Nhận tiền của Nùng Văn T, Lường Văn V đi vào trong buồng ngủ lấy ra 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu xanh) bán cho Nùng Văn T. Mua được H, Nùng Văn T xin phép Lường Văn V cho Nùng Văn T và Tòng Văn N1 sử dụng Heroine tại nhà của Lường Văn V thì được Lường Văn V đồng ý, Lường Văn V còn bảo Nùng Văn T, Tòng Văn N1 sử dụng nhanh rồi về. Nùng Văn T và Tòng Văn N1 lấy Heroine ra sử dụng ngay tại bàn uống nước trong nhà Lường Văn V bằng hình thức hít.

Tại kết luận số 613 ngày 29/05/2024 của của phòng K Công an tỉnh L kết luận 390.000 đồng tiền Việt Nam gửi đến giám định đều là tiền thật.

Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu của: Lù Văn G, Nùng Văn N, Nùng Văn T, Tòng Văn N1 đều có kết quả dương tính với M (MOP), loại: Heroine.

Vật chứng của vụ án gồm: Số tiền 390.000 đồng thu giữ của Lường Văn V hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Bản cáo trạng số 128/CT-VKS ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Lường Văn V về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm d khoản 2 Điều 256; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Văn V 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”; Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lường Văn V phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251, khoản 3 Điều 256 của Bộ luật hình sự và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 290.000 đồng do bị cáo Lường Văn V phạm tội mà có. Trả lại cho bị cáo Lường Văn V 100.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lường Văn V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 11 giờ ngày 26/5/2024 tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lường Văn V đã mua trái phép 01 gói Heroine của một người không quen biết, mục đích để sử dụng và bán. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Lường Văn V đã cùng một lúc bán trái phép 02 gói Heroine cho 02 người là Nùng Văn N và Lù Văn G lấy tổng số tiền 200.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Lường Văn V tiếp tục bán trái phép 01 gói Heroine cho Nùng Văn T lấy 90.000 đồng. Ngay sau đó, Lường Văn V đã cùng một lúc chứa chấp cho 02 người là Nùng Văn T và Tòng Văn N1 sử dụng trái phép Heroine bằng hình thức hít tại bàn uống nước nhà Lường Văn V thuộc bản C, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lường Văn V, Cơ quan điều tra thu giữ số tiền 390.000 đồng, trong đó có 290.000 đồng do Lường Văn V bán Heroine mà có.

Bị cáo Lường Văn V là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo Lường Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do đó cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Lường Văn V sinh sống tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Bị cáo được đi học hết lớp 04/12, bị cáo nghiện chất ma tuý, bản thân chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự thú ra lần mua bán trái phép chất ma tuý cho Nùng Văn T và hành vi chứa chấp sử dụng trái phép chất ma tuý. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình và có bố đẻ được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập không ổn định. Bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 3 Điều 256 của Bộ luật hình sự đối bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 290.000 đồng do bị cáo Lường Văn V phạm tội mà có cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, trả lại cho bị cáo 100.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[10] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc Heroine, Lường Văn V khai mua từ một người phụ nữ không rõ lai lịch tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý.

Đối với người đàn ông lái xe ôm chở Lường Văn V đi mua Heroine, Lường Văn V khai không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lù Văn G, Nùng Văn N, Nùng Văn T, Tòng Văn N1, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm d khoản 2 Điều 256; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 55; điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;

- Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Lường Văn V phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lường Văn V 07 (Bảy) năm 04 (B) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; 07 (B) năm 02 (H1) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”; Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lường Văn V phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 14 (Mười bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 26/5/2024.

3. Về vật chứng: Tịch thu số tiền 290.000 đồng (Hai trăm chín mươi nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước. Trả lại cho bị cáo Lường Văn V số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lường Văn V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân cấp trên./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên;
  • - CQĐT, CQTHAHS huyện Than Uyên;
  • - Nhà Tạm giữ Công an huyện Than Uyên;
  • - Chi cục THADS Than Uyên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

ĐÃ KÝ

Quàng Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy; chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 09/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy; Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Lường Văn V 07 (Bảy) năm 04 (Bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; 07 (Bảy) năm 02 (Hai) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”; Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lường Văn V phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 14 (Mười bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 26/5/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger