Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09 /2024/KDTM – ST;

Ngày: 22-8-2024;

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình.

Ông Mai Văn Du.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh – Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thùy Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án KDTM thụ lý số: 25/2024/TLST-KDTM về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-KDTM ngày 09 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 116/2024/QĐST-KDTM ngày 05/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP H. Địa chỉ: E N, L, quận Đ, Hà Nội. Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Tiến T. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH Đ. Địa chỉ: H D, phường H, quận C, tp Đà Nẵng. Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hoàng A, sinh năm: 1987. Vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các bản trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP H - ông Nguyễn Tiến T trình bày:

Công ty TNHH Đ (sau đây gọi là Công ty) có ký kết với Ngân hàng TMCP H (sau đây gọi là Ngân hàng) Hợp đồng tín dụng số 25.03/2023/HĐTD ngày 25/3/2023. Mục đích vay: bổ sung vốn lưu động. Hạn mức 500.000.000 đồng với thời hạn duy trì vay: 12 tháng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty vay số tiền là 500.000.000 đồng v ới lãi suất 18,53%/năm và thời hạn vay từ 28/3/2023 đến 28/12/2023. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở việc thanh toán nợ gốc và lãi đúng hạn nhưng Công ty đã không trả nợ gốc và nợ lãi đúng kỳ hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó, Ngân hàng khởi kiện Công ty buộc thanh toán số tiền 566.337.477 đồng bao gồm: tiền nợ là 500.000.000 đồng; Tiền lãi tạm tính đến ngày 28/3/2024 là 66.337.477 đồng (gồm nợ lãi là 54.661.039 đồng và nợ lãi quá hạn là 11.676.438 đồng)

Tại bản trình bày đề ngày 22/8/2024, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Công ty phải thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 22/8/2024 là: 622.308.231 đồng, trong đó nợ gốc là 500.000.000đồng, tiền lãi trong hạn là 91.974.875 đồng, tiền lãi quá hạn: 30.333.356 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tiến hành triệu tập nhiều lần, bị đơn Công ty Đ đều vắng mặt không có lý do chính đáng. Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại địa chỉ trụ sở chính công ty theo Giấy đăng ký kinh doanh do Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tp. Đà Nẵng cung cấp theo quy định.

* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tại phiên tòa sơ thẩm: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền; việc thu thập chứng cứ đầy đủ, việc tuân thủ pháp luật của HĐXX tại phiên tòa đúng trình tự, thủ tục. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Giữa Ngân hàng và bị đơn Công ty Đ có ký kết Hợp đồng tín dụng số 25.03/2023/HĐTD ngày 25/3/2023. Tranh chấp giữa các bên là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Theo Công văn số 326/CV-ĐKKD ngày 13/6/2024 của Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở K, Công ty Đ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0402003988 đăng ký thay đổi lần thứ nhất ngày 02/11/2022 có địa chỉ tại H D, quận C, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ tp. Đà Nẵng có thẩm quyền giải quyết.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ tp. Đà Nẵng đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án đối với Công ty Đ tại địa chỉ trụ sở theo đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Đồng thời, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 BLTTDS. Công ty Đ không xuất trình bất kỳ tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nên phải chịu hậu quả về việc không đưa ra chứng cứ để chứng minh theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung

[3] Công ty Đ vay vốn tại Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 25.03/2023/HĐTD ngày 25/3/2023 với mục đích bổ sung vốn lưu động. Việc ký kết hợp đồng tín dụng trên giữa Công ty và Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng tín dụng trên phù hợp với quy định của pháp luật nên được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hợp đồng.

[4] Thực hiện hợp đồng tín dụng trên, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty vay số tiền là 500.000.000đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, do Công ty không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ vay theo hợp đồng mà hai bên cam kết thỏa thuận, vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ thanh toán tiền gốc và lãi suất đã ký với ngân hàng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Tạm tính đến ngày ngày 22/8/2024 là: 622.308.231 đồng, trong đó nợ gốc là 500.000.000đồng, tiền lãi trong hạn là 91.974.875 đồng, tiền lãi quá hạn: 30.333.356 đồng. Đối với yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc và lãi suất của Ngân hàng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[5] Về tiền nợ gốc: Phía bị đơn đã nhận đủ số tiền vay theo Hợp đồng đã giao kết là 500.000.000đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn không thanh toán tiền nợ gốc, còn lại số tiền là: 500.000.000đồng vi phạm Điều 6 của Hợp đồng. Do đó, căn cứ Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 466 BLDS, HĐXX có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả tiền nợ gốc cho nguyên đơn là 500.000.000đồng.

[6] Về tiền lãi: Ngân hàng và Công ty đã thỏa thuận ký hợp đồng tín dụng, thỏa thuận về lãi suất trong hạn là 18,53%/năm và thời hạn vay từ 28/3/2023 đến 28/12/2023 hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với khoản 2, 3 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định pháp luật. HĐXX chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, buộc Công ty phải thanh toán tiền lãi tính đến ngày 22/8/2024 theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên, bao gồm: tiền lãi trong hạn là 91.974.875 đồng, tiền lãi quá hạn: 30.333.356 đồng

[7] Đồng thời, căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, Công ty phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh tương ứng đối với số tiền còn nợ theo lãi suất quy định trong Hợp đồng tín dụng số 25.03/2023/HĐTD ngày 25/3/2023, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, buộc Công ty trả nợ cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 22/8/2024 là: 622.308.231 đồng, trong đó nợ gốc là 500.000.000đồng, tiền lãi trong hạn là 91.974.875 đồng, tiền lãi quá hạn: 30.333.356 đồng và tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh tương ứng đối với số tiền còn nợ theo lãi suất quy định trong Hợp đồng tín dụng số 25.03/2023/HĐTD ngày 25/3/2023, kể từ ngày 23/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[9] Về ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, nên Công ty phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Ngân hàng được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 91, Điều 217, Điều 218, khoản 1 Điều 227, 271, 272, 273 BLTTDS 2015;
  • - Điều 466 BLDS, Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi năm 2017
  • - Các Điều 7, 8, 13, 14 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”;
  • - Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H.

2. Buộc Công ty TNHH Đ phải trả toàn bộ số nợ cho Ngân hàng TMCP H đến ngày 23/8/2024 là 22/8/2024 là: 622.308.231 đồng, trong đó nợ gốc là 500.000.000đồng, tiền lãi trong hạn là 91.974.875 đồng, tiền lãi quá hạn: 30.333.356 đồng và tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh tương ứng đối với số nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất quy định trong Hợp đồng tín dụng số 25.03/2023/HĐTD ngày 25/3/2023, kể từ ngày 23/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp, trong Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà Công ty TNHH Đ phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP H theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

5. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty TNHH Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 28.892.329 đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP H số tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp là: 13.326.000 đồng theo Biên lai số 0001557 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, tp ..

6. Án xử công khai. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hữu Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/KDTM – ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 09/2024/KDTM – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP H và Công ty TNHH Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger