TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 09/2024/HSST Ngày: 23 – 4 – 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Nhưng
- Ông Nguyễn Tiến Thị
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoành, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/HSST ngày 11 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/XXHSST – HS, ngày 28/3/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên bị can: Lê Văn T; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không.
Sinh ngày: 13 tháng 12 năm 2005, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký HKTT và chổ ở: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ, đảng phái: Quần chúng; con ông: Lê Văn H, sinh năm 1968; con bà: Trần Thị T1, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn đã áp dụng: Bị cáo Lê Văn T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, kể từ ngày 19/01/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Bị hại:
Bà Phạm Thị D – sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liênh quan:
Ông Lê Văn H1, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
Bà: Trần Thị T1, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 25/12/2023 chị Phạm Thị D, sinh năm 1970, trú tại thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, để chiếc túi xách xách màu đỏ bên trong có tổng số tiền 25.470.000 đồng (Hai mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) vào trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 59M1-308.22, rồi điều khiển xe mô tô đến nhà ông Lê Văn H, sinh năm 1968 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1970, (Ở cùng thôn), để lấy vỏ trấu về sử dụng. Sau khi đến nhà ông H và bà T1, chị D dựng xe mô tô biển kiểm soát 59M1-308.22, ở ngoài sân rồi đi ra bộ ra phía sau lấy vỏ trấu. Khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, Lê Văn T (Con trai ông H bà T1) đi về nhà thì thấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 59M1-308.22 của chị D dựng ở trước sân, phía ngoài bên phải cốp xe mô tô có một phần sợi dây màu đỏ của chiếc túi xách bị rơi ra. Tưởng nghĩ trong chiếc túi xách để ở trong cốp xe mô tô sẽ có tài sản, nên nảy sinh ý định trộm cắp. Tưởng đi bộ đến vị trí chiếc xe dựng, rồi dùng tay phải nâng yên xe lên, tay trái cầm sợi dây của chiếc túi xách giật mạnh ra ngoài làm một phần của chiếc túi xách lòi ra khỏi cốp xe mô tô, sau đó dùng tay trái kéo khuy xéc ngăn giữa của túi xách, thấy bên trong có nhiều tờ tiền với các mệnh giá khác nhau. Tưởng dùng tay trái luồn vào lấy một xấp tiền với tổng trị giá 13.810.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm mười nghìn đồng) bỏ vào chiếc ví da của mình rồi cất dấu vào túi quần, dùng tay đẩy chiếc túi vào trong cốp xe. Sau khi lấy trộm được tài sản, T đi bộ sang nhà anh Lê Văn H1, sinh năm 1996 (Anh trai của T), ở bên cạnh nhà T cất dấu chiếc ví da cùng với số tiền trộm cắp được lên mái nhà bếp của anh Lê Văn H1. Sau khi về đến nhà chị Phạm Thị D mở cốp xe ra lấy tiền đi trả cho người khác thì phát hiện bị mất trộm số tiền 13.810.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm mười nghìn đồng), nên làm đơn trình báo Công an xã K, huyện K. Ngày 26/12/2023, sau khi nhận được đơn trình báo của chị Phạm Thị D, Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, triệu tập Lê Văn T đến làm việc, tại Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp chiếc ví da cùng số tiền đã lấy trộm của chị Phạm Thị D, đồng thời tiến hành kiểm đếm và xác định số tiền mà Tưởng trộm cắp của chị Phạm Thị D là 13.810.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm mười nghìn đồng), bao gồm 26 (Hai mươi sáu) tờ tiền Việt Nam đang lưu hành có mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng); 04 (Bốn) tờ tiền Việt Nam đang lưu hành có mệnh giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và 01 (Một) tờ tiền Việt Nam đang lưu hành có mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng).
Như vậy, số tiền mà Lê Văn T lấy trộm của chị Phạm Thị D là 13.810.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm mười nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 đang lưu hành.
* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ, xử lý các vật chứng bao gồm:
+ Vật chứng thu giữ đã xử lý:
- 01 (Một) chiếc túi xách màu đỏ, đã qua sử dụng thu của chị Phạm Thị D, nay đã trả lại cho chủ sỡ hữu chị Phạm Thị D.
- 13.810.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm mười nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 đang lưu hành, thu của Lê Văn T, nay đã trả lại cho chủ sỡ hữu chị Phạm Thị D.
+ Vật chứng thu giữ chưa xử lý:
- 01 (Một) chiếc ví da màu đen, đã qua sử dụng, thu của Lê Văn T. Hiện nay đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để xử lý theo quy định.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.
Tại bản Cáo trạng số 12/CT- VKSKA ngày 08 tháng 3 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lê Văn T từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Văn T về cho UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình trực tiếp giám sát và giáo dục, trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Áp dụng khoản 1, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tổ tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) chiếc ví da màu đen, đã qua sử dụng.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo: Xử buộc Lê Văn T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Chứng cứ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 10 giờ 50 phút ngày 25/12/2023, tại nhà ông Lê Văn H, sinh năm 1968 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1970, (Bố, mẹ của Lê Văn T), ở thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, lợi dụng sơ hở của người bị hại trong quản lý tài sản, nên Lê Văn T đã lén lút cạy cốp xe mô tô biển kiểm soát 59M1- 308.22 của chị Phạm Thị D, sinh năm 1970, trú tại thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, dựng xe ở sân nhà T lấy trộm của chị D số tiền 13.810.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm mười nghìn đồng) để trong chiếc túi xách, ở trong cốp xe mô tô.
Hành vi của Lê Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm Cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này, chỉ có một mình Lê Văn T thực hiện hành vi phạm tội.
[3]. Tích chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường kỷ cương pháp luật Nhà nước, làm mất trật tự, trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Bị cáo Lê Văn T được hưởng tình tiết giảm nhẹ: “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy đình tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000₫ đến 50.000.000₫, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Đối với các vấn đề liên quan:
Đối với anh Lê Văn H1, là chủ sỡ hữu ngôi nhà mà Lê Văn T cất dấu tài sản sau khi trộm cắp được. Quá trình điều tra xác định việc T cất dấu tại nhà mình, anh H1 không biết nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
[6]. Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu là bà Phạm Thị D 01 (Một) chiếc túi xách màu đỏ, đã qua sử dụng và 13.810.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm mười nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 đang lưu hành, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Hiện nay còn lại vật chứng sau: 01 (Một) chiếc ví da màu đen, đã qua sử dụng, thu của Lê Văn T. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc ví nói trên là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo, hiện nay không còn giá trị sử dụng, vì vậy cần tịch thu tiêu huỷ, theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị mất trộm, bà Phạm Thị D không có yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tổ tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản1 Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo;
Tuyên bố bị cáo: Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt Lê Văn T 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 ( Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Văn T về cho UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình trực tiếp giám sát và giáo dục, trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) chiếc ví da màu đen, đã qua sử dụng.
Về án phí: Xử buộc Lê Văn T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nơi nhận:
- - Phòng GĐKT;
- -VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- - Phòng PC10;
- - Sở Tư pháp;
- - Trại tạm giam;
- - CA huyện Kỳ Anh;
- - VKSND huyện Kỳ Anh;
- - THA dân sự;
- - THA hình sự;
- - Những người TGTT;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Đặng Xuân Hoàng |
Bản án số 09/2024/HSST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 09/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn l phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điều 173
