Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN S

TỈNH KON TUM

Bản án số: 09/2024/HS-ST

Ngày: 24/4/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S - TỈNH KON TUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân.

  • + Ông Đỗ Hiền Lương – Cán bộ hưu trí.
  • + Ông Trịnh Bá Tân Anh – Bí thư Đoàn Thanh niên Hồ Chí Minh xã Ya Ly, huyện S.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Khánh Lựu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Kon Tum.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Kon Tum, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/TLST-HS, ngày 15 tháng 03 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Duy H. Sinh ngày 12/12/2003 tại tỉnh Kon Tum. Nơi cư trú: Thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy T, sinh năm: 1979 và bà Lê Thị Mỹ V, sinh năm: 1983 đều trú tại thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum. Chưa có vợ, có con. Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

  2. Nguyễn Duy T. Sinh ngày 01/01/1979 tại tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy M, sinh năm: 1952 và bà Phan Thị L, sinh năm: 1955, cùng trú tại thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum. Gia đình bị cáo có năm chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Có vợ là Lê Thị Mỹ V, sinh năm: 1983. Bị cáo có hai con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2007.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

  3. Nguyễn Xuân H1; Sinh ngày 12/12/1991 tại tỉnh Kon Tum. Nơi cư trú: Thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân H2, sinh năm: 1952 (đã chết) và bà Vũ Thị T1, sinh năm: 1958 trú tại thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum; Gia đình bị cáo có bốn anh em, bị cáo là con út trong gia đình. Có vợ là Lê Thị Thu P, sinh năm: 1992 (đã ly hôn). Bị cáo có một người con sinh năm 2013.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Năm 2012, bị Công an thị trấn S, huyện S, tỉnh Kon Tum ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 304/QĐ-XPHC ngày 10/8/2012 về hành vi “Trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác”, đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

  4. A N. Sinh ngày 15/5/1989 tại tỉnh Kon Tum. Nơi Trú tại: Làng B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Xơ Đăng (Tơ Đrá); Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A X, sinh năm: 1957 và bà Y P1, sinh năm: 1956, cùng trú tại thôn G, xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum. Gia đình bị cáo có tám anh em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình. Có vợ là Y N1, sinh năm: 1995. Bị cáo có một người con sinh năm 2020.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

  5. Nguyễn Quốc P2. Sinh ngày 28/06/1985 tại tỉnh Bình Phước. Trú tại: thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm: 1949, trú tại: thành phố Đ, tỉnh Bình Phước và bà Đinh Thị V1, sinh năm: 1954; trú tại: thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum; Gia đình bị cáo có hai anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình. Bị cáo có hai người con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2010.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)..

- Người làm chứng: Cháu A K, sinh ngày 13/12/2006. Người đại diện theo pháp luật: Bà Y Ú (mẹ đẻ). Cùng địa chỉ: Làng B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 24/12/2023, Nguyễn Duy H (sinh năm: 2003; trú tại: thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum) mang theo bộ dụng cụ chơi “Bầu cua”, đèn pin chiếu sáng và 1.000.000 đồng đi vào làng B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum để tìm người đánh “Bầu cua” thắng thua bằng tiền. Khi đến nơi, H bày bộ dụng cụ chơi “Bầu cua” ra bên mép đường bê tông liên thôn, gần nhà “Rông” làng B, xã S thì Nguyễn Xuân H1 (sinh năm: 1991; trú tại: thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum) và một vài thanh niên đi đến tham gia chơi. Vì sợ bị phát hiện nên H nói mọi người xuống khu vực cầu treo, cách vị trí ban đầu khoảng 01 (Một) km, khi đi qua cây cầu treo khoảng vài chục mét, H chọn một địa điểm ở đường bê tông liên thôn cách xa khu vực có nhà dân sinh sống rồi bày bộ dụng cụ chơi “Bầu cua” ra. Sau đó H đeo đèn pin chiếu sáng lên đầu để tạo ánh sáng phục vụ cho quá trình đánh bạc, H xóc bộ “Bầu cua” cho mọi người đặt cược.

Chơi được vài ván thì một số thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) nghỉ chơi và rời đi, lúc này chỉ có H1 và một thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) tiếp tục chơi thì A N (sinh năm: 1989; trú tại: làng B, xã S, huyện S) đến, N lấy tiền trong người ra đếm được 1.500.000 đồng rồi cùng H1 đặt cược (khi N đến thì người thanh niên đang chơi cùng H1 rời đi). Tiếp đó, vào khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Quốc P2 (sinh năm: 1985; trú tại: thôn B, xã S, huyện S) đi qua khu vực cầu treo, thấy H, H1, N đang chơi “Bầu cua” nên lại xem, xem được một lúc thì P2 lấy số tiền 350.000 đồng ra đặt cược. Trong lúc mọi người đang chơi thì có A K (sinh năm: 2006; trú tại: làng B, xã S, huyện S) đến, K ngồi xem mọi người chơi chứ không đặt cược.

Quá trình chơi, Phòng đặt cược mỗi ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, H1N đặt cược mỗi ván từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng (tiền dùng để chơi “Bầu cua” mọi người cất trong người, khi đặt cược hay chung chi tiền thắng thua thì mới lấy tiền ra). Trong lúc chơi, ngoài đặt cược với nhà cái thì H1N còn “Sên” (T3) với nhau còn Phòng vì không hiểu luật chơi nên chỉ đặt với nhà cái. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì H thua hết tiền nên đã mượn của H1 3.000.000 đồng để trả tiền, sau khi mượn tiền của H1, H gọi cho bố là Nguyễn Duy T (sinh năm: 1979; trú tại: thôn B, xã S, huyện S) nói mình đang chơi “Bầu cua” bị thua tiền, mượn 3.000.000 đồng và nhờ T mang lên để gỡ. Khi T tới cầm theo 3.000.000 đồng thì H nói trả cho H1 2.000.000 đồng, còn nhờ T cầm số tiền 1.000.000 đồng còn lại để chung chi tiền thắng thua cho những người đặt cược. Chơi đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày thì P2 thua hết tiền nên ngồi xem.

Cách chơi “Bầu cua” như sau: nhà cái để 03 (Ba) hột “Bầu cua” vào đĩa, úp bát lên trên, sau đó dùng hai tay cầm lên xóc rồi đặt xuống mặt đường trước vị trí ngồi của mình. Những người tham gia đặt cược sẽ đặt tiền vào các biểu tượng “Bầu, C, T4, C1, G, N2” trên bàn “Bầu cua” trải dưới đường. Đặt cược xong nhà cái mở bát, sau khi mở bát, căn cứ vào các mặt ngửa lên phía trên của hột “Bầu cua” tương ứng với các biểu tượng đặt cược ở dưới bàn “Bầu cua” để phân định thắng thua và chung tiền đặt cược. “Sên” (T3) nghĩa là trong ván chơi, người chơi không bỏ tiền của mình ra để đặt cược mà lấy một phần hoặc toàn bộ số tiền đang đặt cược ở một biểu tượng nào đó của một người chơi khác để đặt qua biểu tượng khác mà mình muốn.

H, H1, N, T tiếp tục chơi đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện S phát hiện, bắt quả tang thu giữ tổng số tiền 12.100.000 đồng (trong đó, tại chiếu bạc số tiền 650.000 đồng: Hiếu 150.000 đồng, H1 500.000 đồng; trên người Nguyễn Xuân H1 7.200.000 đồng, A N 1.000.000 đồng, Nguyễn Duy T 3.100.000 đồng); thu giữ 01 (Một) Đĩa bằng kim loại, 01 (Một) Bát bằng kim loại, 06 (Sáu) hột “Bầu cua”, 01 (Một) mảnh phông bạt (Bàn Bầu cua) có in các biểu tượng Bầu, C, T4, C1, G, N2 và 01 (Một) đèn pin chiếu sáng màu đỏ.

Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận: Nguyễn Duy H sử dụng 4.000.000 đồng để đánh bạc (1.000.000 đồng mang đi, mượn Tuấn 3.000.000 đồng), khi bị bắt đang thua 600.000 đồng; Nguyễn Xuân H1 dùng số tiền 7.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, khi bị bắt đang thắng 700.000 đồng; A N dùng số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt đang thua 500.000 đồng; Nguyễn Quốc P2 dùng số tiền 350.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thua 350.000 đồng; Nguyễn Duy T mang lên cho H mượn 3.000.000 đồng và giúp H chung chi tiền thắng thua. Như vậy, tổng số tiền các đối tượng dùng vào mục đích đánh bạc là 12.850.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 04/CT-VKSST ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Kon Tum đã truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Duy H, Nguyễn Duy T, Nguyễn Xuân H1, A N, Nguyễn Quốc P2 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự .

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Kon Tum giữ nguyên quyết định truy tố, không thay đổi, bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H mức án từ 06 – 09 tháng tù giam.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T mức án từ 03 – 05 tháng tù giam.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H1 mức án từ 03 – 05 tháng tù giam.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo A N mức án từ 03 – 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 36; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P2 mức án từ 09 – 12 tháng cải tạo không giam giữ. Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định không khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo Nguyễn Quốc P2 trong thời gian cải tạo không giam giữ.
  • * Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) Đĩa bằng kim loại, đường kính 18cm; 01 (Một) Bát bằng kim loại, đường kính 17cm; 06 (Sáu) hột “Bầu cua”, mỗi hột gồm 06 (Sáu) mặt đều có kích thước 02cm x 02cm; 01 (Một) mảnh phông bạt (Bàn Bầu cua) kích thước 60cm x 40cm, có in các biểu tượng Bầu, C, T4, C1, G, N2; 01 (Một) đèn pin chiếu sáng màu đỏ, loại đèn pin có dây để đeo lên đầu;
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 12.100.000đ (Mười hai triệu một trăm nghìn đồng) các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
  • Đối với số tiền 750.000 đồng chưa thu giữ được (Bị cáo H, H1, N, P2 sử dụng tổng số tiền 12.850.000 đồng vào mục đích đánh bạc; khi bị bắt bị chỉ thu giữ tổng số tiền 12.100.000 đồng): Trong khi chơi có một số thanh niên vào chơi nhưng được một vài ván thì nghỉ rời đi, Cơ quan điều tra đang tiến hành điều tra xác minh nhân thân, lai lịch nhằm thu giữ lại số tiền trên nhưng chưa có kết quả.

Về án phí:

Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Các bị cáo Nguyễn Duy H, Nguyễn Duy T, Nguyễn Xuân H1, A N, Nguyễn Quốc P2 đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình và nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không bào chữa gì thêm. Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đều không bị mớm cung, ép cung hay nhục hình buộc phải nhận tội.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của bản thân là trái pháp luật, mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Điều tra Công an huyện S, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Kon Tum: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, lời khai của các bị cáo là khách quan phù hợp với các tài liệu khác đã được điều tra, thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng thời gian từ 19 giờ 30 phút đến 23 giờ 30 phút, tại làng B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum, Nguyễn Duy H, Nguyễn Duy T, Nguyễn Xuân H1, A N, Nguyễn Quốc P2 thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền Việt Nam đồng dưới hình thức xóc “Bầu cua”. Nguyễn Duy H là người chuẩn bị bộ dụng cụ chơi “Bầu cua”, trực tiếp làm cái ăn thua với Nguyễn Xuân H1, A N, Nguyễn Quốc P2. Còn đối với Nguyễn Duy T không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng cho Nguyễn Duy H mượn tiền để đánh bạc và giúp H chung chi tiền đặt cược trong quá trình đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 12.850.000₫ (Mười hai triệu, tám trăm năm mươi nghìn đồng).

Do vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 04/CT-VKSST ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Kon Tum đã truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Duy H, Nguyễn Duy T, Nguyễn Xuân H1, A N, Nguyễn Quốc P2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo:

Các bị cáo đánh bạc với giá trị không lớn nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp tới trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân đặc biệt tại Làng B (Đa số là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống) – đây là thôn làng đã đạt chuẩn nông thôn mới đầu tiên tại huyện S. Hiện nay, cuộc vận động “Làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm của đồng bào dân tộc thiểu số, làm cho đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên thoát nghèo bền vững” và chương trình xây dựng “Nông thôn mới” được triển khai rộng khắp trên địa bàn huyện, nhận thức của người đồng bào dân tộc thiểu số đã được nâng cao. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc được, thua bằng tiền là một hình thức đánh bạc bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng muốn tư lợi cá nhân nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đánh bạc của các bị cáo không những gây ảnh hưởng xấu tới cuộc sống của chính gia đình của các bị cáo mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và hàng loạt các tội phạm khác. Do đó, việc đấu tranh phòng chống tội phạm này là cần thiết nhằm ngăn chặn tệ nạn cờ bạc đang có chiều hướng gia tăng trên địa bàn xã S nói riêng, huyện S nói chung.

Xét về tính chất vụ án, Hội đồng xét xử thấy vụ án mang tính chất đồng phạm nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm chung về hậu quả.

- Đối với Nguyễn Duy H với vai trò là người chủ mưu, khởi xướng, cầm đầu, trực tiếp sắm sửa dụng cụ và đưa đến làng B để rủ rê, lôi kéo người dân đến chơi, đồng thời là người thực hành tích cực nhất, trực tiếp làm cái ăn thua với các bị cáo khác từ khi bắt đầu cho đến bị bắt quả tang (Bị cáo đã sử dụng 4.000.000 đồng để đánh bạc (1.000.000 đồng mang đi, mượn Tuấn 3.000.000 đồng), khi bị bắt đang thua 600.000 đồng). Hành vi của Nguyễn Duy H chưa đủ dấu hiệu của tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự do chưa có căn cứ để xác định tổng số người tham gia đánh bạc là bao nhiêu người nên bị cáo chỉ bị truy tố về tội “Đánh bạc” là phù hợp.

- Đối với bị cáo Nguyễn Xuân H1 là người thực hành, đã trực tiếp tham gia đánh bạc cùng với các bị cáo khác từ khi bắt đầu cho đến khi bị bắt (Bị cáo đã dùng số tiền 7.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, khi bị bắt đang thắng 700.000 đồng). Trong quá trình chơi, khi H thua hết tiền và mượn tiền của H1 thì H1 đã đồng ý cho H mượn 3.000.000đ (Ba triệu đồng) để tiếp tục làm cái. Đối với nhân thân, năm 2012, bị cáo đã bị Công an thị trấn S, huyện S, tỉnh Kon Tum ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 304/QĐ-XPHC ngày 10/8/2012 về hành vi “Trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác”, đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính tuy nhiên đây được xem là nhân thân xấu và thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo.

- Đối với Nguyễn Duy T không trực tiếp tham gia đánh bạc cùng các bị cáo khác nhưng khi Nguyễn Duy H gọi điện thoại nói đang đánh “Bầu cua” bị thua hết tiền, hỏi mượn 3.000.000 đồng và nhờ T mang tiền lên để gỡ thì T đã mang lên cho Nguyễn Duy H mượn số tiền 3.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Duy T là bố ruột của H mặc dù thấy H có hành vi vi phạm pháp luật nhưng đã không căn ngăn mà ngược lại còn đưa tiền lên cho H, tích cực giúp H nhận tiền cá cược khi thắng và trả tiền chung khi H thua. Do đó, hành vi của Nguyễn Duy T đã giúp sức tích cực cho H thực hiện hành vi đánh bạc nên bị cáo Nguyễn Duy T cũng bị truy tố về tội “Đánh bạc” với vai trò đồng phạm.

Vì vậy, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy khi xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H, Nguyễn Duy TNguyễn Xuân H1 cũng cần xem xét, cân nhắc và áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hậu qua mà các bị cáo gây ra nên cần cách ly các bị cáo với đời sống xã hội một thời gian, có như vậy mới đủ điều kiện và thời gian cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

- Đối với các bị cáo A N là người thực hành, đã trực tiếp tham gia đánh bạc từ đầu đến khi bị bắt quả tang (bị cáo dùng số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt đang thua 500.000 đồng); Nguyễn Quốc P2 là người thực hành, đã trực tiếp tham gia đánh bạc, do hết tiền nên nghỉ trước nhưng bị cáo vẫn ngồi xem đánh bài từ đầu đến khi bị bắt quả tang (bị cáo dùng số tiền 350.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thua 350.000 đồng).

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

* Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Đối với bị cáo Nguyễn Duy H, Nguyễn Duy T, Nguyễn Quốc P2: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có nhân thân tốt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
  • Đối với bị cáo Nguyễn Xuân H1, A N: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Nguyễn Xuân H1 có bố là Nguyễn Xuân H2 là thương binh và được Nhà nước tặng huân chương kháng chiến chống Mỹ. Bị cáo A N có mẹ là Y P1 là người có công với nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cần áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Xuân H1, A N.

* Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Các bị cáo A N, Nguyễn Quốc P2 có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Các bị cáo có 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có khả năng tự cải tạo, nên chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo với đời sống xã hội. Điều này, không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với A N và áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo Nguyễn Quốc P2 là tạo điều kiện cho các bị cáo được trực tiếp lao động cải tạo dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phù hợp với chính sách nhân đạo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của Pháp luật, giúp các bị cáo sửa chữa sai lầm, sống lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

Bên cạnh đó, các bị cáo Nguyễn Duy T, Nguyễn Xuân H1, A N được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt các bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt của điều luật cũng đủ tác dụng cải tạo và giáo dục các bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[5] Đối với A K: A K chỉ ngồi xem các bị cáo đánh bạc, không có hành vi giúp sức nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S không xem xét xử lý hình sự đối với A K là phù hợp.

Đối với một số thanh niên vào tham gia chơi nhưng nghỉ và rời đi trước: Các bị cáo và người làm chứng đều không biết nhân thân, lai lịch của các thanh niên này. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đang tiếp tục xác minh, xử lý là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Đối 01 (Một) Đĩa bằng kim loại, đường kính 18cm; 01 (Một) Bát bằng kim loại, đường kính 17cm; 06 (Sáu) hột “Bầu cua”, mỗi hột gồm 06 (Sáu) mặt đều có kích thước 02cm x 02cm; 01 (Một) mảnh phông bạt (Bàn Bầu cua) kích thước 60cm x 40cm, có in các biểu tượng Bầu, C, T4, C1, G, N2; 01 (Một) đèn pin chiếu sáng màu đỏ, loại đèn pin có dây để đeo lên đầu. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội có giá trị sử dụng không lớn nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Số tiền 12.100.000đ (Mười hai triệu một trăm nghìn đồng) các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
  • Đối với số tiền 750.000 đồng chưa thu giữ được (Bị cáo H, H1, N, P2 sử dụng tổng số tiền 12.850.000 đồng vào mục đích đánh bạc; khi bị bắt bị chỉ thu giữ tổng số tiền 12.100.000 đồng). Đây là số tiền của một số thanh niên vào chơi nhưng được một vài ván thì nghỉ rời đi (chưa xác định được nhân thân, lai lịch của các thanh niên này). Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đang tiếp tục xác minh, xử lý là phù hợp.

[8] Về án phí: Các bị cáo bị kết án mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Duy H, Nguyễn Duy T, Nguyễn Xuân H1, A N, Nguyễn Quốc P2 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 BLHS.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H1 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54 BLHS.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 ; Điều 65 BLHS.
  • Xử phạt bị cáo A N 4 tháng tù nhưng được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/4/2024). Giao bị cáo A N cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã S trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 36; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P2 10 (Mười) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
  • Giao bị cáo Nguyễn Quốc P2 cho UBND xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục trong thời cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Nguyễn Quốc P2 phải thực hiện các nghĩa vụ về cải tạo không giam giữ theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Nguyễn Quốc P2.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:

  • Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) Đĩa bằng kim loại, đường kính 18cm (Mười tám Centimet); 01 (Một) Bát bằng kim loại, đường kính 17cm (Mười bảy Centimet); 06 (Sáu) hột “Bầu cua”, mỗi hột gồm 06 (Sáu) mặt đều có kích thước 02cm (H) x 02cm (H); 01 (Một) mảnh phông bạt (Bàn Bầu cua) kích thước 60cm (Sáu mươi Centimet) x 40cm (Bốn mươi Centimet), có in các biểu tượng Bầu, C, T4, C1, G, N2; 01 (Một) đèn pin chiếu sáng màu đỏ, loại đèn pin có dây để đeo lên đầu. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 03 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện S và Cục thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Kon Tum).
  • Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 12.100.000 (Mười hai triệu, một trăm nghìn) đồng các bị cáo sử dụng để đánh bạc (đơn vị trả tiền Công an huyện S, tỉnh Kon Tum– Đơn vị nhận tiền Chi Cục thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Kon Tum, nội dung thanh toán – Chuyển tiền vật chứng theo Quyết định số 06/QĐ-VKSST ngày 15/03/2024 tại Kho bạc Nhà nước huyện S theo ủy nhiệm chi lập ngày 25/3/2024)

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Duy H, Nguyễn Duy T, Nguyễn Xuân H1, A N, Nguyễn Quốc P2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; 332; 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/4/2024) các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này để xin xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • Các bị cáo;
  • Bị hại;
  • Người có quyền, nghĩa vụ liên quan;
  • VKSND huyện S, tỉnh Kon Tum;
  • VKSND tỉnh Kon Tum;
  • TAND tỉnh Kon Tum;
  • Chi cục THADS huyện S, tỉnh Kon Tum (khi bản án có hiệu lực);
  • Công an huyện S;
  • Trại tạm giữ Công an huyện S;
  • UBND xã/phường/thị trấn (nơi cư trú của bị cáo);
  • Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum;
  • TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • Phòng hồ sơ Công an tỉnh Kon Tum;
  • Phòng hồ sơ PV27 Công an tỉnh Kon Tum;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT SỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S - TỈNH KON TUM về đánh bạc (hình sự)

  • Số bản án: 09/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S - TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Duy H, Nguyễn Duy T, Nguyễn Xuân H1, A N, Nguyễn Quốc P2 phạm tội “Đánh bạc” .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger