Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ L

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HS-ST

Ngày 22 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Nga

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lý Chí Sung

Ông Trần Minh Hải

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lệ Quyên - Thư ký Toà án nhân dân thành

phố L, tỉnh Lai Châu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên toà: bà Bùi

Thị Tính, Kiểm sát viên.

Ngày 22/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn T; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 26/02/1996, tại tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Quàng Văn O, sinh năm 1971 và bà Lò Thị U, sinh năm 1972; Sống như vợ chồng với bà Chang Thị Q, sinh năm 1998 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền sự: không; Tiền án: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26/6/2024, Quàng Văn T đang ở Bệnh viện đa khoa tỉnh Lai Châu, thuộc tổ 22, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu thì lên cơn nghiện ma túy nên một mình đi bộ từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lai Châu đến Bến xe khách tỉnh Lai Châu thuộc tổ 26, phường Đông Phong, thành phố L tìm mua Heroine để sử dụng. Đến nơi, T gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch, nhìn giống người nghiện ma túy nên đã hỏi mua Heroine với người đàn ông này. Sau khi nhận 200.000 đồng của T, người đàn ông nói trên đưa cho T 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ màu đen và chữ viết ở một mặt giấy. Mua được Heroine, T cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc trên người rồi đi bộ tìm chỗ sử dụng. Hồi 19 giờ cùng ngày, khi T đang đi bộ bên trong bến xe khách tỉnh Lai Châu thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố L phối hợp với Công an phường Đông Phong kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng là gói Heroine T đang tàng trữ để sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 42/KLGĐ ngày 26/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 865/KL-KTHS ngày 28/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu, kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Quàng Văn T trong quá trình bắt quả tang ngày 26/6/2024 có khối lượng là 0,20 gam. Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Cáo trạng số 65/CT-VKSTP ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lai Châu đã truy tố Quàng Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Về hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Quàng Văn T từ 13 đến 14 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2024.

- Hình phạt bổ sung: đề nghị hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự;

- Về xử lý vật chứng: Đối với 0,20gam Heroine Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lai Châu đã gửi toàn bộ đi giám định, sau giám định không hoàn lại mẫu vật nên không đề nghị xem xét, giải quyết. Vật chứng còn lại, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ bao thuốc nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ màu đen và chữ viết ở một mặt giấy.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm vấn công khai tại phiên toà, có đủ căn cứ khẳng định: Hồi 19 giờ ngày 26/6/2024, tại bến xe khách tỉnh Lai Châu thuộc Tổ 26, phường Đông Phong, thành phố L, tỉnh Lai Châu, Quàng Văn T đang tàng trữ trái phép 0,20 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố L phối hợp với Công an phường Đông Phong, thành phố L phát hiện, bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Quàng Văn T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ý thức được điều đó nhưng vì mục đích tư lợi của bản thân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Quàng Văn T có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: [...]

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; [...]

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lai Châu đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về nhận thân: Bị cáo là người sử dụng ma túy; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng đối với bị cáo; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm tiếp tục răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử cần quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 0,20gam Heroine thu giữ của bị cáo Quàng Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu gửi toàn bộ đi giám định, sau giám định không hoàn lại mẫu vật nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

- Đối với 01 phong bì niêm phong là phong bì công văn của Công an thành phố L (Theo hồ sơ bên trong là 01 vỏ bao thuốc nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ màu đen và chữ viết ở một mặt giấy). Xét thấy, vật chứng trên là công cụ phạm tội, là vật không có giá trị sử dụng nên cân tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[6] Đối với đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Các vấn đề khác: Theo lời khai của bị cáo Quàng Văn T thì nguồn gốc 0,20 gam Heroine bị thu giữ là T mua của một người đàn ông gặp tại Bến xe khách tỉnh Lai Châu. Tuy nhiên, do bị cáo không biết nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.

[8] Về án phí: Theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên xét thấy bị cáo thuộc hộ nghèo theo giấy chứng nhận số 217/GCN-HN,HCN ngày 05/01/2024 của UBND xã Noong Hẻo, huyện S, tỉnh Lai Châu. Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo. Do đó đủ điều kiện miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

[1] Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2024.

[3] Về vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy đối với 01 phong bì niêm phong là phong bì công văn của Công an thành phố L (Theo hồ sơ bên trong là 01 vỏ bao thuốc nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ màu đen và chữ viết ở một mặt giấy).

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 00 phút ngày 20/11/2024 giữa Công an thành phố L, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lai Châu).

[4] Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận.

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thành phố L;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố L;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố L;
  • - VKSND thành phố L;
  • - Chi cục THADS thành phố L;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký tên, đóng dấu)

Nguyễn Bích Nga

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Bích Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 09/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Quàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger