|
TAND HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2024/HS-ST Ngày: 08-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Đới Xuân Huy |
| Các Hội thẩm nhân dân: | - Ông Lý Ngọc Sáng |
| - Ông Tống Văn Đông |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST- HS ngày 25/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lầu A C - Sinh năm 1977.
Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lầu Xái T - sinh năm 1943 và bà Sùng Thị M - sinh năm 1952; Bị cáo có vợ là Chang Thị D (đã chết) và có 01 con; Gia đình bị cáo có 10 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2024 cho đến nay (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Minh H - Trợ giúp viên pháp lý của T1 tân Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 21/4/2024, sau khi đi thăm người thân tại cụm dân cư Đ1 thuộc bản P, xã V, huyện M, Lầu A một mình điều khiển xe máy, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RS của C đi từ bản P, xã V, huyện M đến bản P, xã H, huyện N để tìm mua Heroine về sử dụng. Tại bản Pa Mu, xã H, C gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông, lạ mặt 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Mua được H1, C ở lại chơi tại bản P, xã H, huyện N, tỉnh Lai Châu và luôn cất giấu gói Heroine trong người. Vào khoảng 03 giờ, ngày 22/4/2024, Cở một mình điều khiển xe máy đi từ bản Pa Mu, xã H về nhà người thân tại bản P, xã V, huyện M, trên đường đi Cở cất giấu gói Heroine trong mồm Cở. Đến 04 giờ 00 phút, cùng ngày 22/4/2024, khi C di chuyển về đến đoạn đường liên xã T, xã V, huyện M thì bị tổ công tác Công an xã V, huyện M đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực, yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Lúc này, do lo sợ nên C đã lấy gói Heroine từ trong mồm ra rồi thả xuống rãnh nước tại vị trí Cở dừng xe. Tuy nhiên, hành vi thả gói Heroine của C đã bị Tổ công tác phát hiện và yêu cầu nhặt lên để kiểm tra.
Quá trình kiểm tra, C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nên Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giỏm định tư phỏp số 37/KLGĐ ngày 22/4/2024 của người giỏm định tư phỏp theo vụ việc Cụng an huyện M, đó kết luận: 01 mẫu chất bột khụ, màu trắng thu giữ của Lầu A cú khối lượng là 0,66 gam.
Tại bản kết luận giỏm định số 742/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của Phũng K1 Cụng an tỉnh L kết luận đối với vật chứng thu giữ của Lầu A: Mẫu chất bột màu trắng gửi giỏm định là ma tỳy, loại: Heroine
Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKS-MT ngày 16/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu đã truy tố Lầu A C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phân tích các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên bố bị cáo Lầu A C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" xử phạt bị cáo Lầu A C mức án từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 10 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 04 mảnh nilon màu hồng, 01 chiếc mũ bảo hiểm và 01 sợi chỉ màu vàng. Tịch thu bán hóa giá sung ngân sách Nhà nước giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu Wave RS không biển kiển soát.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa nhất trí với nội dung, quyết định truy tố. Không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng, đồng ý với quan điểm của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:
Xét lời khai nhận của bị cáo Lầu A C tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã truy tố.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 04 giờ 00 phút, ngày 22/4/2024, tại khu vực đoạn đường liên xã T, xã V, huyện M, tỉnh Lai Châu, Lầu A đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,66 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã V, huyện M phát hiện, bắt quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Bị cáo Lầu A C có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về các chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi tàng trữ trái phép 0,66 gam Heroine để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy "theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác liên quan là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ cũng như hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo chưa chưa có tiền án, tiền sự nhưng là người nghiện chất ma túy.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.
Do bị cáo là người nghiện chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ... hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, gia đình là hộ cận nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về vật chứng của vụ án: 0,66 gam Heroine cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã gửi toàn bộ giám định không hoàn lại mẫu vật, việc gửi vật chứng đi giám định là phụ hợp với quy định của pháp luật. 04 mảnh nilon màu hồng, 01 sợi chỉ màu vàng, 01 chiếc mũ bảo hiểm là vật chứng của vụ án, đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA loại xe Wave RS: Qua điều tra xác minh kết quả thể hiện chiếc xe máy được đăng ký dưới tên Giàng Súa K được anh Hoàng Khắc Đ mua lại rồi bán cho bị cáo. Đây là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, bị cáo đã dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, bán hóa giá, nộp ngân sách Nhà nước.
[6]. Về những vấn đề khác: Đối với người đàn ông dân tộc Mông, lạ mặt mà theo lời khai đó là người đã bán H1 cho bị cáo đem về sử dụng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được người đó là ai nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét xử lý.
[7]. Về án phí: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình là hộ cận nghèo của xã nên cần miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Tuyên bố bị cáo Lầu A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lầu A C 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 04 mảnh nilon màu hồng, 01 chiếc mũ bảo hiểm và 01 sợi chỉ màu vàng. Tịch thu bán hóa giá nộp ngân sách Nhà nước giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu Wave RS không biển kiển soát.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện M với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè được lập vào hồi 17 giờ 56 phút ngày 30 tháng 10 năm 2024)
- Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đới Xuân Huy |
Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 09/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ...
