|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2024/HS-ST
Ngày: 06 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Quỳnh Trang.
Các hội thẩm nhân dân.
- Ông Hà Văn Tiêm
- Bà Lò Thị Quỳnh
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngọc Sơn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bằng Phi, Kiểm sát viên.
Từ ngày 01/11/2024 đến ngày 06/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2024/HSST ngày 01/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/QĐXXST-HS ngày 14/10/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 01/2024/QĐHPT- HS ngày 24/10/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng L (tên gọi khác: không), sinh ngày 04 tháng 4 năm 1985 tại Bắc Ninh; Nơi ĐKNKTT: H, Khu E, Phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Nơi tạm trú: Tổ I, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Đảng phái, đoàn thể: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trọng S, sinh năm 1962 và bà Chu Thị L1, sinh năm 1963; bị cáo chưa có vợ (bị cáo sống chung như vợ chồng với Quàng Thị P, sinh năm 1993, không có đăng ký kết hôn, có 01 con sinh năm 2017). Tiền sự: không.
Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án:
- - Tại Bản án số 22/2018/HSST ngày 31/01/2018 của Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 03 năm tù giam, phạt bổ sung 2.000.000đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (chưa được xoá án tích);
- - Tại Bản án số 118/2021/HSST ngày 02/8/2021 của Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (chưa được xoá án tích);
- - Nhân thân: - Tại Bản án số 87/HSST ngày 14/6/2004 của Toà án nhân dân thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo 03 tháng 02 ngày tù về tội Đánh bạc (đã được xoá án tích);
- - Tại Bản án số 112/2006/HSST ngày 16/8/2006 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xoá án tích);
- - Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2008/HSST ngày 10/4/2008 của Toà án nhân dân thị xã Sơn La xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã được xoá án tích).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Chu Thị L1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Tổ I, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ 20 phút ngày 19/6/2024, tổ Công tác Công an Phường C, Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ G, phường C, thành phố S phát hiện Nguyễn Trọng L có biểu hiện nghi vấn về ma tuý. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Trọng L. Quá trình kiểm tra hành chính, L tự giác giao nộp từ trong túi quần bên phải đang mặc 01 gói nilon bên trong chứa chất cục bột màu trắng (L khai nhận là ma tuý cất giữ để sử dụng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Trọng L khai nhận:
Nguyễn Trọng L bắt đầu sử dụng ma tuý từ năm 2007. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/6/2024, L mang theo số tiền 360.000đ đi bộ từ nhà ở tổ I, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La ra đường Q đón xe bus đến bản Thôm, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La tìm mua ma tuý để sử dụng. Khi L xuống xe đi bộ đến đầu cầu B thì gặp một người phụ nữ khoảng 40 tuổi, mặc váy thái màu đen và áo sơ mi trắng đang đứng ở đường. L đến hỏi chuyện người phụ nữ giới thiệu tên là Xoan nhà ở Bản T. Qua trao đổi, L mua được của người phụ nữ trên 01 gói nilon bên trong có chứa ma tuý với giá 300.000đ. L cất giấu gói ma tuý vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi xe bus về nhà. Khi về đến nhà, L mang theo gói ma tuý vừa mua được rồi điều khiển xe máy điện biển kiểm soát 26MĐ1 – 061.54 đi đến ngõ A, đường T, thuộc tổ G, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La tìm nơi để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường C, công an thành phố S kiểm tra, L đã giao nộp số ma tuý cho tổ công tác như đã nêu trên.
Cơ quan Công an thành phố S thu giữ được vật chứng gồm: 01 gói nilon bên trong có chứa chất cục bột màu trắng (theo lời khai của L cục bột màu trắng là heroine, cất giữ để sử dụng).
Ngày 19/6/2024, Công an thành phố S tiến hành cân tịnh vật chứng, kết quả: Cục bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang có khối lượng 0,18 gam; lấy 0,06 gam cho vào túi nilon màu trắng làm mẫu giám định ký hiệu N. Còn lại 0,12 gam làm mẫu lưu kho, ký hiệu L.
Tại Kết luận giám định số 1377 ngày 21/6/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu N là ma túy, loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,06 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,18 gam loại Heroine”.
Tại bản Cáo trạng số 445/CT-VKSTP ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng L khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điều 38, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 tuyên: tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì công văn Công an thành phố S còn nguyên niêm phong, gồm 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu trắng; Mẫu lưu kho ký hiệu L = 0,12 gam, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong số 0075202 có ghi “Cơ quan CSĐT-CTP. Sơn La hồi 22 giờ 05 phút ngày 19/6/2024 tại C”. Trả lại cho bà bà Chu Thị L1: 01 chiếc xe máy điện màu đỏ, đen trắng, BKS: 26MĐ1 – 061.54, nhãn hiệu Momentium, số khung 621309818734, số máy: không có, xe đã qua sử dụng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Ý kiến của bị cáo nhất trí như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo tại phiên toà. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo:
Vào ngày 19/6/2024, Nguyễn Trọng L đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,18 gam ma tuý loại Heroine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- - Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 30 phút ngày 19/6/2024 tại tổ G, phường L, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Nguyễn Trọng L.
- - Kết luận giám định số 1377 ngày 21/6/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu N là ma túy, loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,06 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,18 gam loại Heroine”.
- - Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Trọng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Nguyễn Trọng L với số lượng tàng trữ ma túy 0,18 gam loại Heroine nhưng có 02 tiền án chưa được xoá án tích nên đã vi phạm điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội tại địa phương.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Bị cáo Nguyễn Trọng L là người nghiện ma túy, đã có 02 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy, về nhân thân đã từng bị xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã từng bị kết án các tội phạm mua bán trái phép chất ma túy, trộm cắp tài sản nhưng không ăn năn hối cải, vẫn tiếp tục thực hiện các hành vi phạm tội tàng trữ chất ma túy, vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Đối với nguồn gốc ma túy 0,18 gam loại Heroine, bị cáo khai nhận do bị cáo mua của một người phụ nữ tên là Xoan nhà ở bản T, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành xác minh tại xã T, huyện T, tỉnh Sơn La, kết quả: không có ai tên X có đặc điểm nhận dạng như lời khai của L. Do đó không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
[5] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu trắng; Mẫu lưu kho ký hiệu L = 0,12 gam, xét thấy là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với 01 chiếc xe máy điện màu đỏ, đen trắng, BKS: 26MĐ1 – 061.54, nhãn hiệu Momentium, số khung 621309818734, số máy: không có, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định nguồn gốc xe là của bà Chu Thị L1 (mẹ đẻ của Nguyễn Trọng L) mua nhưng do bà L1 không có sổ hộ khẩu tại thành phố S nên đã nhờ bà Bùi Thị T (mẹ chồng của bà L1) đứng tên đăng ký. Nguyễn Trọng L sử dụng xe máy điện trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội bà L1 không biết, không liên quan. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của bà L1, việc bị cáo sử dụng xe không được sự nhất trí của bà L1 nên cần trả lại cho bà Chu Thị L1 theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L 05 năm 05 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 19/6/2024).
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: “Vật chứng lưu kho vụ Nguyễn Trọng L Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 19/6/2024” gồm 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu trắng; Mẫu lưu kho ký hiệu L = 0,12 gam, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong số 0075202 có ghi “Cơ quan CSĐT-CTP. Sơn La hồi 22 giờ 05 phút ngày 19/6/2024 tại C”.
T1 trả lại cho bà Chu Thị L1: 01 chiếc xe máy điện màu đỏ, đen trắng, BKS: 26MĐ1 – 061.54, nhãn hiệu Momentium, số khung 621309818734, số máy: không có, xe đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc bị cáo Nguyễn Trọng L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331, khoản 1 điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo Nguyễn Trọng L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/11/2024), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Chu Thị L1 có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/11/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Thị Quỳnh Trang |
Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 09/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 19/6/2024, Nguyễn Trọng L đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,18 gam ma tuý loại Heroine nhằm mục đích sử dụng
