TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 09/2024/HS-ST Ngày 16 - 5 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan và bà Trần Thị Minh Phúc.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Bát – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HS ngày 25/4/2024, quyết định hoãn phiên toà số 01/2024/QÐST-QĐ ngày 09/5/2024, đối với các bị cáo:
1. Võ Tiến S, sinh ngày 15/8/1993, tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ T, sinh năm 1962 và bà Hoàng Thị C, sinh năm 1960; vợ: Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1995, trú tại: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 23/12/2023 đến ngày 26/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
2. Nguyễn Văn Đ; sinh ngày 22/9/1979, tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT: Khu phố D, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tùng C1, sinh năm 1954, trú tại: tỉnh Ninh Thuận và bà Trần Thị T1, sinh năm 1953, trú tại: Khu phố D, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; vợ: Hồ Thị T2, sinh năm 1985; có 03 con: con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Năm 1995, bị Công an thị xã Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; năm 1996, bị đưa vào Trường G ở quận H, thành phố Đà Nẵng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; năm 2019, bị Công an thị xã Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 23/01/2024 đến nay. Có mặt.
3. Lê Thiên B; sinh ngày 10/12/1992, tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Nhân viên ngân hàng; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thiên S1, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968, trú tại: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; vợ: Nguyễn Thị Phương T3, sinh năm 1993, trú tại: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Năm 2022, bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 23/12/2023 đến ngày 26/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
4. Nguyễn Văn M; sinh ngày 01/4/1999, tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT: Khu phố B, Phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Thảo H1, sinh năm 1975, trú tại: Khu phố B, Phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 23/12/2023 đến ngày 26/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
5. Nguyễn Quang H2; sinh ngày 13/4/1985, tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT: Khu phố B, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Cán bộ thuỷ lợi; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công P, sinh năm 1947 và bà Đỗ Thị H3, sinh năm 1955, trú tại: Khu phố B, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; vợ: Phạm Thị Huyền T5, sinh năm 1986, trú tại: Khu phố B, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 23/12/2023 đến ngày 26/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
6. Nguyễn Duy T6; sinh ngày 18/3/1993, tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT: Khu phố A, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T7, sinh năm 1970 và bà Trần Thị Thu T8, sinh năm 1968, trú tại: Khu phố A, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 23/12/2023 đến ngày 26/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
7. Hoàng Kim T9; sinh ngày 20/8/1998, tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT: thôn X, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Thợ chụp ảnh; trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Kim C2, sinh năm 1950 và bà Phan Thị E, sinh năm 1957, trú tại: thôn X, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 23/12/2023 đến ngày 26/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Võ Trung H4, sinh năm 1994, địa chỉ: Khu phố B, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Anh Lê Đức H5, sinh năm: 1993, địa chỉ: Khu phố A, Phường C, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 23/12/2023, tại quán B1 ở đường N thuộc Khu phố D, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, Võ Tiến S mua 02 bộ bài tú lơ khơ rồi cùng với Hoàng Kim T9, Nguyễn Văn Đ và Lê Thiên B đánh bida. Sau khoảng 15 phút thì S, T9, Đ, B thống nhất cùng nhau nghĩ đánh bida để chuyển sang đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài mậu binh 9 lá tố ăn thua bằng tiền Việt Nam đồng, với quy ước:
- Đánh bài mậu binh 09 lá tố là sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài gồm các lá A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K (bốn nước bài là bích, chuồn, rô và cơ) và thêm 02 lá Q cơ và K cơ, tổng cộng là 54 lá bài, mỗi ván chia cho mỗi người 09 lá bài. Mỗi ván quy ước đặt tiền tham gia ván đánh là 20.000đồng/ người/ lượt chơi, sau đó tố lần lượt từng người theo vòng tối đa là 200.000đồng và không quá 04 lần tố, đến khi không còn người tố và đã cân tiền tố thì mở bài, ai có bài lớn hơn sẽ thắng tất cả mọi người còn lại. Tiền đánh bạc được những người chơi cất trong người, khi tố sẽ đặt ra.
- Trong quá trình bắt đầu đánh bài mậu binh 09 lá tố ăn thua bằng tiền, những người tham gia đánh sẽ chọn người làm cái (người chia bài và tố đầu tiên) ngẫu nhiên, tiếp đó người nào thắng sẽ là người làm cái tiếp theo. Khi chơi người làm cái sẽ chia cho mỗi người chơi 09 lá bài, người chơi sẽ chia 09 lá ra thành 03 chi, mỗi chi gồm 03 lá bài, sau khi tính toán xong thì chi nào lớn nhất sẽ để dưới cùng, chi nào thấp nhất sẽ để lên trên, khi các người chơi so bài với nhau ai thắng 02 chi thì sẽ thắng ván bài đó, còn trường hợp các người chơi thắng, thua chồng chéo nhau thì sẽ chia lại bài đánh tiếp cho đến khi có người thắng và quy ước bài thắng cược được xếp thứ tự từ cao xuống thấp, cụ thể:
- + Sam đến ba tiên (cặp) đến ba tiên đến 9 điểm (cặp) đến 9 điểm đến 8... cho đến 0 điểm.
- + Sam là bài gồm 03 lá bài cùng một quân bài nhưng khác nước bài. Ví dụ: 03 lá A (xì).
- + Ba tiên là bài gồm 03 lá bài có một trong các quân J, Q, K kết hợp với nhau. Ví dụ: J, Q, K. Ba tiên cặp là các quân J,Q,K có lặp lại 2 lần kết hợp với 1 trong 2 quân bài còn lại. Ví dụ: J,K,K.
- + Sau cùng là tính tổng điểm trên 03 cây bài, bài nào có điểm cao hơn thì thắng với thang điểm cao nhất là 9 điểm, trong đó: các quân 10, J, Q, K được tính là là 0 điểm, quân bài A được tính là 1 điểm. Ví dụ: 9, J, K được tính là 9 điểm và Q, 6, A được tính là 7 điểm.
- + 9 điểm cặp là bài gồm 03 lá bài từ A đến K trong đó có một lá bài lặp lại kết hợp với nhau cộng với lá bài còn lại ra 9 điểm. Ví dụ: 9,10,10.
- Trong trường hợp các nhóm bài trên nếu trùng nhau thì sẽ tính nước và quy ước các nước bài từ thấp đến cao như sau: bích, chuồn, rô và cơ.
Khi S, T9, Đ, B đang đánh bạc trái phép thì có Nguyễn Quang H2, Nguyễn Duy T6 và Nguyễn Văn M đến. H2 và T6 vào tham gia đánh bạc, còn M đứng xem. Sau đó, Đ đi vệ sinh nên để lại 1.250.000đồng và nhờ M vào đánh giúp.
Đến lúc 16 giờ 30 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an thị xã Q kiểm tra quán B1 thì phát hiện S, T9, B, H2, T6, M đang có hành vi đánh bạc trái phép nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang với tổng số tiền thu giữ là 14.160.000đồng, trong đó có 2.840.000đồng đang đặt cược tại bàn và 11.320.000đồng thu giữ trong người Sang, T9, B, H2, T6, M, cụ thể như sau:
- - Võ Tiến S: Số tiền mang theo để phục vụ đánh bạc là 2.260.000đồng. Tại thời điểm bắt quả tang, số tiền trong người là 2.220.000đồng.
- - Hoàng Kim T9: Số tiền mang theo để phục vụ đánh bạc là 720.000đồng. Tại thời điểm bắt quả tang, số tiền trong người là 400.000đồng.
- - Lê Thiên B: Số tiền mang theo để phục vụ đánh bạc là 1.890.000đồng. Tại thời điểm bắt quả tang, số tiền trong người là 1.800.000đồng.
- - Nguyễn Quang H2: Số tiền mang theo để phục vụ đánh bạc là 2.220.000đồng. Tại thời điểm bắt quả tang, số tiền trong người là 2.080.000đồng.
- - Nguyễn Duy T6: Số tiền mang theo để phục vụ đánh bạc là 1.920.000đồng. Tại thời điểm bắt quả tang, số tiền trong người là 470.000đồng.
- - Nguyễn Văn M: Số tiền mang theo để phục vụ đánh bạc là 4.350.000đồng. Tại thời điểm bắt quả tang, số tiền trong người là 4.350.000đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Đ đã thừa nhận khi đến tham gia đánh bạc mang theo số tiền là 800.000đồng, đánh thắng được 450.000đồng và để lại toàn bộ 1.250.000đồng để nhờ M đánh giúp.
Tại bản kết luận số 201/KL-KTHS ngày 18/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận tổng số tiền 14.160.000đồng là tiền thật.
Quá trình điều tra đã thu giữ:
- - 02 bộ bài tú lơ khơ loại 52 lá.
- - 01 cái bàn được làm bằng khung sắt màu đen, có mặt đá màu đen.
- - 05 cái ghế sắt, được làm bằng khung sắt màu đen.
- - 01 xe mô tô biển số: 74F5-1079.
- - 01 xe mô tô biển số: 74E1-071.17.
- - 01 xe mô tô biển số: 74F1-222.91.
- - 01 xe mô tô biển số: 74F3-3462.
- - 01 xe mô tô biển số: 75R1-9258.
- - Tổng số tiền 14.160.000đồng.
Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKS-TXQT ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị đã truy tố các bị cáo Võ Tiến S, Nguyễn Văn Đ, Lê Thiên B, Nguyễn Văn M, Nguyễn Quang H2, Nguyễn Duy T6, Hoàng Kim T9 về tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Tiến S, Nguyễn Văn Đ, Lê Thiên B, Nguyễn Văn M, Nguyễn Quang H2, Nguyễn Duy T6, Hoàng Kim T9 về tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Quang H2, bị cáo Nguyễn Văn Đ áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: bị cáo Võ Tiến S từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng, Lê Thiên B từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng, Nguyễn Văn M từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng, Nguyễn Văn Đ từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng, Nguyễn Quang H2 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, Nguyễn Duy T6 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; Hoàng Kim T9 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 14.160.000đồng; tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ loại 52 lá; trả lại cho anh Võ trung H6: 01 cái bàn được làm bằng khung sắt màu đen, có mặt đá màu đen đã qua sử dụng, 01 cái ghế sắt được làm bằng khung sắt màu đen có kích thước (120x40x53)cm đã qua sử dụng, 04 cái ghế sắt được làm bằng khung sắt màu đen có kích thước (51x40x53)cm đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo Võ Tiến S, Hoàng Kim T9, Nguyễn Văn Đ, Lê Thiên B, Nguyễn Quang H2, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Văn M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 23/12/2023 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 23/12/2023, tại quán B1 ở đường N thuộc Khu phố D, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị các bị cáo Võ Tiến S, Hoàng Kim T9, Nguyễn Văn Đ, Lê Thiên B, Nguyễn Quang H2, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Văn M đang thực hiện hành vi đánh bài được thua bằng tiền trái phép dưới hình thức đánh bài mậu binh 9 lá tố ăn thua bằng tiền Việt Nam đồng. Tổng số tiền 07 bị cáo sử dụng vào việc đánh là 14.160.000 đồng (Mười bốn triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng). Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm vào trật tự xã hội, pháp luật nghiêm cấm dưới bất kỳ hình nào, có đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi: Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn hưởng lợi bất chính đã thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm vào trật xã hội, làm mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận quần chúng nhân dân sinh sống trên địa bàn nên cần phải xét xử bị cáo một cách nghiêm khắc mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét về tính chất mức độ phạm tội của từng bị cáo thấy rằng: Bị cáo Võ Tiến S là người chủ động chuẩn bị công cụ để thực hiện hành vi đánh bạc, bị cáo Nguyễn Văn Đ, Lê Thiên B có nhân thân xấu, bị cáo Nguyễn Văn M là người có số tiền sử dụng đánh bạc cao nhất nên phải chịu mức án cao hơn các bị cáo trong cùng vụ án.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Tiến S, Nguyễn Văn Đ, Lê Thiên B, Nguyễn Văn M, Hoàng Kim T9, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Quang H2 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn Đ có mẹ là bà Trần Thị T1 được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất và bị cáo Nguyễn Quang H2 có mẹ là bà Đỗ Thị H3 là con của Liệt sĩ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, tội phạm ít nguy hiểm, tang số phạm tội không lớn với số tiền thu giữ là 14.160.000 đồng, mục đích phạm tội của các bị cáo là thu lợi bất chính bằng hình thức được thua bằng tiền. Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo.
[5] Về vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng gồm:
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã thu giữ: 14.160.000 đồng (Mười bốn triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền đánh bạc. Đây là số tiền các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. (Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự).
Đối với 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ loại 52 lá. Xét thấy, đây là công cụ các bị cáo dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) cái bàn được làm bằng khung sắt màu đen, có mặt đá màu đen đã qua sử dụng, 01 cái ghế sắt được làm bằng khung sắt màu đen có kích thước (120x40x53) cm đã qua sử dụng, 04 cái ghế sắt được làm bằng khung sắt màu đen có kích thước (51x40x53) cm đã qua sử dụng, đây là tài sản của anh Lê Đức H5 và anh H5 không biết các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho anh H5. (Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự).
[6] Đối với tài sản bị tạm giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã trả lại cho chủ sở hữu đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Hiện các bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú nên huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo (điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự)
[8] Về án phí: Bị cáo Võ Tiến S, Hoàng Kim T9, Nguyễn Văn Đ, Lê Thiên B, Nguyễn Quang H2, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Văn M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Võ Tiến S, Nguyễn Văn Đ, Lê Thiên B, Nguyễn Văn M, Nguyễn Quang H2, Nguyễn Duy T6, Hoàng Kim T9 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Quang H2, bị cáo Nguyễn Văn Đ áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- Bị cáo Võ Tiến S số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng)
- Bị cáo Lê Thiên B số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng)
- Bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng)
- Bị cáo Nguyễn Văn M số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng)
- Bị cáo Nguyễn Quang H2 số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)
- Bị cáo Nguyễn Duy T6 số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)
- Bị cáo Hoàng Kim T9 số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 14.160.000 đồng (Mười bốn triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng) được niêm phong vào 01 gói niêm phong có mã tài sản 156000008943A, được gửi tại Kho bạc Nhà nước thị xã Q. (Biên bản giao nhận tài sản số 23.1.1/2024/BBBG-KBTX ngày 23/1/2024)
Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ loại 52 lá.
Trả lại cho anh Lê Đức H5 01 (một) cái bàn được làm bằng khung sắt màu đen, có mặt đá màu đen đã qua sử dụng, 01 (một) cái ghế sắt được làm bằng khung sắt màu đen có kích thước (120x40x53) cm đã qua sử dụng, 04 (bốn) cái ghế sắt được làm bằng khung sắt màu đen có kích thước (51x40x53) cm đã qua sử dụng.
(Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/4/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Võ Tiến S, Hoàng Kim T9, Nguyễn Văn Đ, Lê Thiên B, Nguyễn Quang H2, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Văn M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ Luật Tố tụng Hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Hạnh |
Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 09/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Võ Tiến Sang, Nguyễn Văn Đức, Lê Thiên Bảo, Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Quang Hùng, Nguyễn Duy Tân, Hoàng Kim Tiến phạm tội “Đánh bạc”.
