Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 09/2024/HS-ST

Ngày 07-06-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Trần Thanh Thắng.
  • Ông Nguyễn Minh Trọn.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Tấn Thiên, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Võ Thúy Nhị - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh C, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1984 tại tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn) 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung L và bà Nguyễn Ngọc T (Đã chết); Vợ bà Nguyễn Hồng G; con 01 người; tiền án không; tiền sự không; bị cáo được tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo:

  1. Ông Nguyễn Thành S, sinh năm 1980 là Luật sư của Công ty luật trách nhiệm hữu hạn Luật Sống thuộc Đoàn luật sự tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
  2. Ông Tôn Quách T1, sinh năm 1986 là Luật sư của Công ty luật trách nhiệm hữu hạn Luật Sống thuộc Đoàn luật sự tỉnh Cà Mau (Có mặt).

- Bị hại: Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện P, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Quốc L1, sinh năm 1977; địa chỉ: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau là người đại diện theo pháp luật của Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện P, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người làm chứng:

  1. Ông Hồ Văn N, sinh năm 1978 (Có mặt).
    Địa chỉ: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau;
  2. Lâm Thanh H, sinh năm 1963 (Có mặt).
    Địa chỉ: Ấp D, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau,
  3. Ông Phạm Văn H1 (H2), sinh năm 1981 (Có mặt).
    Địa chỉ: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2019, Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Cà Mau cho Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện P tạm ứng số tiền 119.000.000 đồng để thực hiện 02 công trình sửa chữa cầu và sửa chữa điện chiếu sáng. Ngày 30/01/2019, ông Trần Trường A là Phó trưởng phòng đã ký giấy ủy nhiệm chi số tiền 53.260.000 đồng cho Công ty cổ phần Đ tạm ứng để thực hiện công trình sửa chữa cầu. Ngày 17/11/2019, Ủy ban nhân dân huyện P đã bổ sung dự toán số tiền 66.356.000 đồng để thực hiện nhiệm vụ sửa chữa cầu. Sau khi được bổ sung dự toán ngân sách Phòng Kinh tế và Hạ tầng đã tiến hành thủ tục thanh toán, ngày 25/12/2019 đã chuyển tiền 54.995.000 đồng tương ứng 95% giá trị hợp đồng cho Công ty Cổ phần Đ. Ngày 30/12/2019, Nguyễn Minh C là chuyên viên Phòng Kinh tế và Hạ tầng, là Kế toán trưởng đến Công ty gặp ông Phạm Văn H1 là Chủ tịch Hội đồng quản trị để yêu cầu được nhận lại 53.260.000 đồng mà Công ty đã tạm ứng. Nguyễn Minh C sau khi nhận được tiền không báo cáo Lãnh đạo Phòng, không giao tiền thủ quỹ giữ để thực hiện thủ tục hoàn tạm ứng ngân sách mà tự giữ tiêu xài cá nhân. Ngày 06/12/2021, bị cáo C bỏ việc không lý do, không liên lạc được.

Ngày 22/02/2023, bị cáo có nộp 53.260.000 đồng tự nguyện khắc phục hậu quả vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện P.

Tại Cáo trạng số: 24/CT-VKS ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố bị cáo Nguyễn Minh C về tội: “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình. Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng số: 24/CT-VKS ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân về tội danh và điều khoản truy tố. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1, Điều 353; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Tham ô tài sản”. Về hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm. Giao bị cáo cho UBND thị trấn C, huyện P giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện P số tiền 53.260.000 đồng từ số tiền Cơ quan điều tra đã thu giữ 119.000.000 đồng trong tài khoản 3949.0.9058744.00000 tại Kho bạc nhà nước huyện P.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo là người được lãnh đạo Phòng cụ thể là ông Nguyễn Minh L2 phân công nhiệm vụ theo dõi và thu tiền tạm ứng của các đơn vị thi công về nộp lại. Cụ thể trước đây, vào năm 2016, bị cáo có nhận số tiền 100.000.000 đồng do ông Hồ Văn N đại diện Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên A1 trả tiền tạm ứng cho Phòng kinh tế và hạ tầng sau đó bị cáo nộp lại cho P. Đến ngày 30/12/2019, bị cáo là người trực tiếp nhận 53.260.000 đồng của Công ty Cổ phần Đ về không nộp lại đơn vị, do nợ nần mà đã chi xài cá nhân.

Luật sư T1 là người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo Nguyễn Minh C có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự mà đại diện Viện kiểm sát huyện P đề nghị để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi nghị án: Bị cáo biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người có liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người bào chữa cho bị cáo: Người bào chữa cho bị cáo Luật sư Nguyễn Thành S đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 291 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt người bào chữa cho bị cáo Luật sư Nguyễn Thành S.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Minh C với vai trò là Kế toán trưởng của Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện P, tỉnh Cà Mau, bị cáo được lãnh đạo Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện P, tỉnh Cà Mau phân công nhiệm vụ quản lý, thu, chi, thanh toán, quyết toán đối với tất cả các nguồn kinh phí do Phòng Kinh tế và Hạ tầng quản lý. Ngày 30/12/2019, bị can C đã lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn của mình đến Công ty cổ phần Đ để thu 53.260.000 đồng tiền tạm ứng của Phòng cho Công ty T2 để thực hiện công trình sửa chữa cầu L thị trấn C Vàm và Tân H3 về không nộp lại để mà chiếm đoạt để chi xài cá nhân.

Bị cáo C là người thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức biết rõ số tiền 53.260.000 đồng tài sản của Nhà nước, biết rõ việc chiếm dụng số tiền này là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt số tiền trên để chi xài cá nhân, tội phạm do bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả; gia đình bị cáo là người có công cách mạng, trong công tác bị cáo được tặng nhiều danh hiệu "Chiến sỹ thi đua cơ sở"; vợ bị cáo là bà Nguyễn Hồng G, quá trình công tác được tặng nhiều giấy khen, bằng khen, danh hiệu nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, Luật sự bào chữa cho bị cáo và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo cho bị cáo được hưởng án treo. Nhận thấy, mặc dù bị cáo Nguyễn Minh C có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng về tính chất vụ án là nghiệm trọng, bởi lẽ hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước được pháp luật bảo vệ, hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt tù có thời hạn mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Luật sự bào chữa cho bị cáo cho hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

[5] Về trách nhiệm dân sự.

Tại phiên tòa, đại diện theo pháp luật của Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện P yêu cầu buộc bị cáo hoàn trả số tiền bị cáo chiếm đoạt là 53.260.000 đồng. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên Tòa và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chứng minh được hành vi của bị cáo đã chiếm đoạt số tiền 53.260.000 đồng, dó đó yêu cầu của Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện P là có căn cứ được chấp nhận. Buộc bị cáo C có nghĩa vụ trả lại cho Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện P số tiền 53.260.000 đồng. Bị cáo đã nộp khắc phục bồi thường đủ số tiền trên vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện P, Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện P được nhận số tiền trên khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[6]. Quá trình điều tra còn xác định số tiền 119.000.000 đồng Ủy ban nhân dân huyện P cho Phòng Kinh tế và Hạ tầng tạm ứng đã bị sử dụng sai mục đích, Cơ quan điều tra Công an huyện P đã trưng cầu giám định tài chính để xác định thiệt hại và trách nhiệm của từng cá nhân nhưng chưa có kết quả nên Cơ quan điều tra đã tách vụ việc ra để xử lý ở một vụ án khác là phù hợp nên không xem xét trong vụ án này. Đề nghị Cơ quan điều tra Công an huyện P tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân có liên quan để xử lý theo đúng quy định pháp luật.

[7] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt tù là có căn cứ được chấp nhận. Tuy nhiên, mức hình phạt là nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt thấp hơn mức mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, bị cáo Nguyễn Minh C phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản1, khoản 5 Điều 353; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội "Tham ô tài sản".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày cáo đi chấp hành án phạt tù.

    Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Nguyễn Minh C đảm nhiệm chức vụ liên quan đến kinh tế, tài chính trong thời hạn 02 (hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Minh C phải trả cho Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện P, tỉnh Cà Mau số tiền 53.260.000 đồng (Năm mươi ba triệu hai trăm sáu mươi ngàn đồng). Bị cáo C đã tự nguyện nộp khắc phục bồi thường xong. Yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P chuyển số tiền 53.260.000 đồng từ số tài khoản: 3949.0.9058744.00000 tại Kho bạc Nhà nước huyện P, tỉnh Cà Mau theo giấy nộp tiền ngày 23/02/2023 đến tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân để thi hành án theo quy định.
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Minh C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - CC THADS huyện Phú Tân;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Công an huyện Phú Tân;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về hình sự sơ thẩm (tham ô tài sản)

  • Số bản án: 09/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tham ô tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger