|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2024/HS-PT-CTN
Ngày 27 tháng 5 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thuận Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Linh và ông Phạm Tấn Tài.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo. Do có kháng cáo của bị cáo các bị cáo Trương Văn N và đồng phạm đối với Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 27/02/2024 của Tòa án Nhân dân Thành phố C, tỉnh An Giang.
Các bị cáo kháng cáo:
- Trương Văn N, sinh ngày 26/9/2006; nơi sinh: Thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ I, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn N1, sinh năm 1980 và bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1988; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 24/7/2023 đến nay (có mặt).
- Phạm Lê Quốc C, sinh ngày 30/3/2006; nơi sinh: Thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ A, khóm D, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tấn D, sinh năm 1983 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1986; bị cáo là con duy nhất; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/8/2023 đến nay (có mặt).
- Trần Lâm Đ, sinh ngày 11/10/2005; nơi sinh: Thành phố C, tỉnh An Giang; nơi thường trú: Tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nơi ở hiện nay: Tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S, sinh năm 1988 và bà Lâm Thị Q, sinh năm 1985; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/8/2023 đến nay (có mặt).
- Phạm Văn B, sinh ngày 26/6/2006; nơi sinh: Thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C1, sinh năm 1973 và bà Lê Thị Bé L, sinh năm 1974; anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là người thứ ba; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/8/2023 đến nay (có mặt).
- Nguyễn Thanh T, sinh ngày 03/8/2007; nơi sinh: Thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ A, khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1964 và bà Lê Thị L1, sinh năm 1968; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ ba; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/11/2023 đến nay (có mặt).
- Bùi Trọng N2 (tên gọi khác: B1), sinh ngày 25/4/2009; nơi sinh: Thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H2, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Tuyết T1, sinh năm 1978; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ hai; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/11/2023 đến nay (có mặt).
- Nguyễn Quốc V, sinh ngày 22/12/2005; nơi sinh: Thành phố C, tỉnh An Giang; nơi thường trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, nơi ở hiện tại: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1976 và bà Hồ Thị Út N3, sinh 1981; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/11/2023 đến nay (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đ: Lâm Thị Q, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo B: Lê Thị Bé L, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo V: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo C1: Phạm Tấn D, sinh năm 1983; nơi cư trú: tổ A, khóm D, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo T: Lê Thị L1, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ A, khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo N2: Bùi Văn H2, sinh năm 1977; nơi cư trú: Khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
* Người bào chữa:
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Lâm Đ: Bà Lê Hồ Bích H3, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt).
- Người bào chữa cho các bị cáo Trương Văn N, Phạm Lê Quốc C, Phạm Văn B: Ông Trần Phước T3, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt).
- Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Thanh T, Nguyễn Quốc V: Luật sư Phan Văn B2, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Trọng N2: Ông Phạm Minh T4, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt).
Các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị được Tòa án triệu tập:
- Vũ Ngọc Kim N4 (tên gọi khác: Vũ Minh L2), sinh ngày 26/5/2006; nơi sinh: Thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ A, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Minh L3, sinh năm 1985 (đã chết) và bà Lâm Thanh T5, sinh năm 1988; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 03/8/2023 đến nay (có mặt).
- Dương Tuấn S2, sinh ngày 09/4/2005; nơi sinh: Thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo C; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Q1 và bà Nguyễn Thị B3, sinh năm 1985; bị cáo là con duy nhất; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/8/2023 đến nay (có mặt).
- Lê Minh D1, sinh ngày 23/11/2006; nơi sinh: Thành phố C, tỉnh An Giang; nơi thường trú: Tổ E, khu phố B, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nơi ở hiện nay: Tổ E, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Minh H4, sinh năm 1982 và bà Lê Thị T6, sinh năm 1987; bị cáo là con duy nhất; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 24/7/2023 đến nay (có mặt).
- Trần Minh T7, sinh ngày 09/9/2006; nơi sinh: Thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ A, khóm B, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh H5, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị H6, sinh năm 1972; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/8/2023 đến nay (có mặt).
- Văng Văn N5, sinh ngày 26/4/2009; nơi sinh: Thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ D, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văng Văn T8, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị N6, sinh năm 1987; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 24/11/2023 đến nay (có mặt).
- Nguyễn Minh T9, sinh ngày 21/01/2008; nơi sinh: Quận C, thành phố Cần Thơ; nơi thường trú: Số D, khu phố D, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ; nơi ở hiện nay: Số B, H, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T10, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Ly N7, sinh năm 1979; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 24/11/2023 đến nay (có mặt).
(Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác, nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/7/2023, nhớ lại sự việc ngày hôm trước, trong lúc điều khiển xe mô tô, đến khu vực Miếu ông B4 (tổ A, khóm C, phường V, thành phố C), Vũ Ngọc Kim N4 bị một nhóm thanh niên (không rõ lai lịch) ném đá nhưng không trúng; nên tức giận. Theo đó, N4 rủ Trần Minh T7, Vũ Lê T11, Nguyễn Thanh T, Văng Văn N5, Bùi Trọng N2 đến khu vực trên tìm đánh nhóm thanh niên ném đá N4, tất cả đồng ý. T7 liền điện thoại kêu Lê Minh D1 rủ thêm người để cùng đi đánh tiếp N4 và hẹn gặp nhau tại khu vực Trường Trung học cơ sở N9, thuộc khóm C, phường C, thành phố C. Xong, nhóm của N4, T7, T11, T, N5, N2 điều khiển xe mô tô đến địa điểm hẹn, chờ nhóm của D1. Đồng ý, D1 rủ Dương Tuấn S2, cả hai đến nhà Nguyễn Quốc V (tổ A, khóm V, phường N, thành phố C), thấy V đang uống rượu với Trương Văn N, Phạm Lê Quốc C, Phạm Văn B, Trần Lâm Đ, Nguyễn Minh T9, thì D1 và S2 rủ V và những người uống rượu chung đi tiếp N4 đánh nhau, tất cả đồng ý. V dẫn D1, N, C và B vào phòng ngủ của V lấy số dao tự chế cất giấu sẵn để sử dụng đánh nhau, N lấy 01 cây dao mèo dài 67cm, D1 lấy 01 cây dao dài 64cm, C lấy 01 cây dao dài 126cm, B lấy 01 cây dao dài 102cm mang ra đưa S2 cầm. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô biển số 67E1-465.44 chở N; Bước điều khiển xe mô tô biển số 67B2-097.06 chở S2; T9 điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở D1 và C chạy đến điểm hẹn với T7. Riêng V ở lại nhà, không đi. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của D1 đến nơi, gặp nhóm của N4, T7, thì T11 trong nhóm của N4, T7 lấy hung khí đưa N4 01 cây kiếm Nhật dài 91cm, C 01 cây dao dài 126 cm, Bước 01 cây dao dài 102cm, T11 cầm 01 cây dao dài 48cm, T7 cầm dao tự chế mang theo sẵn, tất cả đi trên 05 xe mô tô, chở nhau đến Miếu ông B4.
Đến nơi, N4, T7, D1, T11, S2, N, C, N5 cầm các lọai hung khí nguy hiểm là kiếm, dao đi vào hẻm gần M tìm kiếm nhóm thanh niên đã ném đá N4; còn N2, B, T, Đ, T9 ngồi trên xe đứng chờ bên ngoài, thấy nhóm Trần Duy A, Đặng Hoàng K, Nguyễn Văn L4, Nguyễn Văn T12, Tiêu Trọng P, Quách Huỳnh P1 và Huỳnh Văn T13 đứng gần đó, nghĩ là nhóm thanh niên N4 tìm đánh nên tri hô, N4, T7, D1, T11, S2, N, C, N5 quay lại, cùng cả nhóm truy đuổi đánh nhóm Duy A bỏ chạy tán loạn. Ngay đó, D1, S2 cầm dao đuổi theo Duy A đến trước nhà Đặng Quí E (tổ A, khóm C, phường V, thành phố C) thì đuổi kịp; Duy A la lên “nhầm người, không phải em”, N liền chém 01 nhát, Duy A đưa tay trái lên đỡ, trúng cổ tay. Duy A bỏ chạy trốn vào buồng nhà Quí E; N, D1, S2 cầm dao đuổi theo, đến trước cửa buồng, cả ba vung dao chém D gây thương tích ở mặt trước cánh tay trái. Sau đó, người dân tri hô “Công an” nhóm của N4 lên xe bỏ đi; D được đưa đến Bệnh viện, trình báo Cơ quan Công an, yêu cầu khởi tố. Những người còn lại trong nhóm Duy A bỏ chạy kịp, không ai bị thương tích.
Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 532/23/KLTTCT-TTPY ngày 15/8/2023 của Trung tâm pháp y - Công an tỉnh A đối với bị hại Trần Duy A, sinh năm 2009, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích do vật sắc gây nên là 40%.
Cơ quan Cảnh sát Đều tra - Công an thành phố C, tỉnh An Giang thu giữ, xử lý vật chứng như sau:
- 01 cây dao tự chế dài 64 cm, phần lưỡi bằng kim loại màu nâu, dài 49 cm, rộng 04 cm, sắc bén một cạnh, mũi nhọn, phần cán kim loại màu đen, dài 15 cm;
- 01 cây kiếm dài 91 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, dài 66 cm, nơi rộng nhất 03 cm, sắt bén một cạnh, mũi nhọn, phần cán dao bằng nhựa màu đen dài 25 cm, cùng 01 vỏ bao bằng gỗ màu trắng, dài 74 cm;
- 01 cây dao tự chế dài 98 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen, dài 34 cm, nơi rộng nhất 06 cm, sắt bén một cạnh, mũi bầu nhọn, phần cán bằng kim loại tròn màu đen, dài 64 cm;
- 01 cây dao dài 48 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, dài 36 cm, sắc bén một cạnh, mũi nhọn, cán dao bằng kim loại tròn dài 12 cm;
- 01 cây dao dài 176 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu xám, dài 32 cm, sắc bén một cạnh, mũi nhọn, cán dao bằng kim loại tròn dài 144 cm;
- 01 cây dao mèo dài 67 cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 47 cm, nơi rộng nhất 4.3 cm, sắc bén một cạnh, trên thân dao có các răng cưa và lổ tròn, mũi dao nhọn, phần cán bằng gỗ màu đen, dài 20 cm, cùng 01 vỏ bao đựng dao dài 54 cm, bằng gỗ màu đen;
- 01 cây dao tự chế dài 102 cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 52 cm, nơi rộng nhất 07 cm, sắc bén một cạnh, mũi bằng, phần cán bằng kim loại màu trắng dài 50 cm;
- 01 cây dao tự chế dài 126 cm, phần lưỡi bằng kim loại, dài 31 cm, sắc bén một cạnh, mũi nhọn, phần cán bằng kim loại, dài 95 cm;
- 01 cây dũ ba khúc bằng kim loại màu vàng dài 65 cm, cán quấn băng keo màu đen; 01 cây gậy bóng chày bằng kim loại màu trắng dài 70 cm;
- 01 cây dao dài 80 cm, lưỡi dao bằng kim dài 26 cm, sắc bén một cạnh, mũi bầu nhọn, cán dao bằng kim loại tròn dài 54 cm;
- 01 cây dao dài 100 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 67 cm, lưỡi dao không sắc bén, mũi nhọn, cán dao bằng kim loại tròn dài 33 cm;
- 01 cây dao dài 102 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 70 cm, lưỡi dao không sắc, mũi nhọn, cán dao bằng kim loại tròn dài 32 cm;
- 01 cây dao dài 91 cm, lưỡi dao bằng kim loại sơn màu đỏ, dài 36 cm, sắc bén một cạnh, mũi nhọn, cán dao bằng kim loại tròn dài 55 cm;
- 01 cây dao dài 128 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 27 cm, sắc bén một cạnh, mũi bằng, cán dao bằng kim loại tròn dài 101 cm;
- 01 cây dao dài 118 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 30 cm, sắc bén một cạnh, mũi bằng, cán dao bằng kim loại tròn quấn băng keo đen dài 88 cm;
- 01 cây dao dài 158 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 58 cm, sắc bén một cạnh, mũi nhọn, cán dao bằng kim loại tròn quấn băng keo màu đen dài 100 cm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2024/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố C đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Trương Văn N, Phạm Lê Quốc C, Trần Lâm Đ, Phạm Văn B, Nguyễn Thanh T, Bùi Trọng N2, Nguyễn Quốc V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt chính:
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trương Văn N 05 năm 3 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/7/2023.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Phạm Lê Quốc C 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; khoản 1 Điều 54; Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trần Lâm Đ 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Phạm Văn B 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; khoản 1 Điều 54; Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 iều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Bùi Trọng N2 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; khoản 1 Điều 54; Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp, phần án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 04/3/2024 và 08/3/2024 các bị cáo Bùi Trọng N2, Trần Lâm Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Ngày 11/3/2024, các bị cáo Trương Văn N, Phạm Lê Quốc C, Phạm Văn B, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Quốc V có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Riêng bị cáo Trương Văn N tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu và có quan điểm: Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật. Giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo kháng cáo, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, đồng thời các bị cáo phạm tội với tình tiết có tính chất côn đồ nên không đủ điều kiện xét cho hưởng án treo quy định tại khoản 1 điều 3 Nghị quyết 02/2018 được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết 01/2022 ngày 15/4/2022 của HĐTPTANDTC. Riêng bị cáo Đ cung cấp Biên nhận ngày 08/3/2024 của bị hại A nhận của bị cáo Đồng 10.600.000đ khắc phục hậu quả; Đơn bãi nại của bị hại A ngày 08/3/2024, yêu cầu cho bị cáo Đ hưởng án treo; bị cáo T nộp khắc phục hậu quả 2.000.000 đồng; bị cáo V nộp khắc phục thêm 5.000.000 đồng. Vì vậy, có thể xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo T, Đ và V mỗi bị cáo từ 01 đến 03 tháng tù. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 342, Điều 348, điểm a, b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trương Văn N; Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo: C; Bước; N2. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo: V; Đ và T, sửa Bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58, 91, 101, khoản 1, 2 Điều 54 BLHS, xử phạt Phạm Lê Quốc C 02 năm tù; Nguyễn Quốc V từ 01 năm 09 tháng đến 01 năm 11 tháng; Phạm Văn B, Bùi Trong N8, mỗi bị cáo 01 năm tù; Trần Lâm Đ và Nguyễn Thanh T mỗi bị cáo từ 09 tháng đến 11 tháng tù, cùng về tội “Cố ý gây thương tích”.
Người bào chữa cho các bị cáo N4, T7, Đ, D1, N, C, B, V, T, T9, N5, Nghĩa là các trợ giúp viên pháp lý, Luật sư phát biểu ý kiến:
Thống nhất về tội danh, khung hình phạt đã truy tố, xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội, đã nộp khắc phục hậu quả xảy ra, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; hầu hết các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là người chưa thành niên phạm tội; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, cho các bị cáo hình phạt tù nhưng được hưởng án treo hoặc các biện pháp giáo dục khác mà không phải chấp hành hình phạt tù với thời gian thử thách cũng là vừa răn đe nhưng cũng mang tính giáo dục, tạo cơ hội cho các bị cáo sửa chữa lỗi lầm, làm lại cuộc đời.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không bổ sung ý kiến của người bào chữa, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Trương Văn N, Phạm Lê Quốc C, Trần Lâm Đ, Phạm Văn B, Nguyễn Thanh T, Bùi Trọng N2, Nguyễn Quốc V là trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Đối với các bị cáo Vũ Ngọc Kim N4, Trần Minh T7, Lê Minh D1, Dương Tuấn S2, Văng Văn N5, Nguyễn Minh T9, mặc dù không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xem xét lại phần quyết định về hình phạt của bản án để đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong vụ án có đồng phạm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/7/2023 Vũ Ngọc Kim N4(Vũ Minh L2), Trần Minh T7, Nguyễn Thanh T, Văng Văn N5, Bùi Trọng N2, Lê Minh D1, Dương Tuấn S2, Trương Văn N, Phạm Lê Quốc C, Phạm Văn B, Trần Lâm Đ, Nguyễn Minh T9, Nguyễn Quốc V đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Trần Duy A. Hậu quả, A bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 40%. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo N4, T7, T, N5, N2, D1, S2, N, C, B, Đ, T9, V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trương Văn N tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, vì vậy đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo N.
[5] Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo của các bị cáo Phạm Lê Quốc C, Trần Lâm Đ, Phạm Văn B, Nguyễn Thanh T, Bùi Trọng N2, Nguyễn Quốc V, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người Hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, nên cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt cho từng bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét đến mức độ, hành vi tham gia thực hiện tội phạm của từng bị cáo để xác định chính xác hành vi nhằm phân hoá tội phạm và hình phạt phù hợp. Theo đó, trong vụ án, bị cáo N4 với vai trò là người cầm đã cùng với các bị cáo N, D1, S2 thực hiện hành vi tấn công An trực tiếp; bị cáo N và bị cáo S2 là người tích cực, hăng hái, chủ động nhất khi dùng dao trực tiếp rượt đuổi và quyết liệt chém gây thương tích cho bị hại A tỷ lệ 40%. Do đó, cấp sơ thẩm nhận định hành vi của các bị cáo N4, N, D1, S2 là côn đồ, vô cớ gây thương tích cho bị hại A thỏa mãn tình tiết định khung tăng nặng theo khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Các bị cáo còn lại, gồm: T7, N5, C, N2, B, Đ, T, T9, V nghe theo lời của bị cáo N4 tìm người để đánh nhau nhưng trên thực tế các bị cáo này đều không trực tiếp gây thương tích cho bị hại A. Thậm chí bị cáo V không tham gia cùng nhóm đi đến địa điểm đánh nhau, còn N2, B, T, Đ, T9 đứng bên ngoài. Do đó, Cấp sơ thẩm nhận định các bị cáo T7, N5, C, N2, B, Đ, T, T9, V có tính côn đồ là chưa đủ cơ sở; mà các bị cáo này chỉ đồng phạm với các bị cáo N4, N, D1, S2 ở hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại A.
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, cấp sơ thẩm đã vận dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt các bị cáo với mức hình phạt tù là tương xứng, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[6] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo cũng thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Đồng thời, như nhận định trên, thì các bị cáo có kháng cáo Phạm Lê Quốc C, Trần Lâm Đ, Phạm Văn B, Nguyễn Thanh T, Bùi Trọng N2, Nguyễn Quốc V không trực tiếp sử dụng hung khí gây thương tích cho bị hại A. Trong thực hiện hành vi, các bị cáo giữ vai trò giúp sức, không đáng kể, các bị cáo đều là người chưa thành niên, thậm chí bị cáo N2 tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chỉ mới 14 tuổi 03 tháng. Đồng thời, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo Đ khắc phục hậu quả 10.6000.000 (biên nhận tiền ngày 08/3/2024), phía bị hại A có Đơn bãi nại, yêu cầu cho bị cáo Đ hưởng án treo; gia đình bị cáo N2 nộp khắc phục hậu quả 1.000.000 đồng (biên nhận tiền ngày 14/5/2024); gia đình bị cáo N2 nộp khắc phục hậu quả 1.000.000 đồng (biên nhận tiền ngày 14/5/2024); gia đình bị cáo T nộp khắc phục hậu quả 2.000.000 đồng (Biên lai thu tiền số 0000525 ngày 13/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang); bị cáo V nộp khắc phục thêm 5.000.000 đồng (Biên lai thu tiền số 0000529 ngày 15/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
Như vậy, trong vụ án này các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và thuộc trường hợp người chưa thành niên phạm tội theo quy định tại Điều 90, Điều 91 của Bộ luật hình sự.
Xét thấy, các bị cáo C, Đ, B, T, N2, V đều có nơi cư trú rõ ràng, trong quá trình tại ngoại, không vi phạm pháp luật, do đó, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được miễn chấp hành hình phạt có điều kiện dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo.
[7] Bên cạnh đó, trong vụ án còn có các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị gồm: N4, T7, D1, S2, N5, T9. Thấy rằng: Như đã phân tích trên, cấp sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo là đúng người, đúng tội. Trong đó, các bị cáo N4, D1, S2 cùng với N là những người giữ vai trò chính, trực tiếp gây thương tích cho bị hại A nên mức hình phạt của cấp sơ thẩm đối với các bị cáo là phù hợp.
Riêng các bị cáo T7, N5, T9 cũng giống như các bị cáo có kháng cáo không trực tiếp gây thương tích cho bị hại A và cũng giữ vai trò giúp sức, không đáng kể và cũng đều chưa thành niên; đồng thời, các bị cáo T7, N5, T9 đang bị tạm giam tính đến thời điểm xét xử phúc thẩm thì N5 và T9 mỗi bị cáo đã bị tạm giam 06 tháng 03 ngày; bị cáo T7 đã tạm giam 09 tháng 24 ngày, có người thân thích có công với cách mạng, được tặng thưởng nhiều huân chương. Do đó, thực hiện các quy định về xử lí đối với người chưa thành niên phạm tội nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên sửa chữa sai lầm nên xem xét giảm mức mức hình phạt cho các bị cáo T7, N5, T9 hình phạt tù bằng thời gian bị tạm giam cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo, đồng thời nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong vụ án có đồng phạm.
Bị cáo T7 đã bị Toà án nhân dân thành phố C xử phạt 07 (B5) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2024; do đó, việc tổng hợp hình phạt và quyết định thi hành án sẽ do Chánh án Toà án nhân dân thành phố C thực hiện theo quy định khi bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.
[8] Quan điểm của Viện kiểm sát cùng cấp đề nghị sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo: Việt, Đ và T, không đồng ý cho các bị cáo được hưởng án treo và cũng không xem xét lại phần quyết định hình phạt cho các bị cáo không có kháng cáo, quan điểm này không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Cấp sơ thẩm đã quyết định phần bồi thường thiệt hại và không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo Đ đã tự nguyện khắc phục hậu quả 10.600.000đ (biên nhận tiền ngày 08/3/2024), gia đình bị cáo N2 tự nguyện khắc phục hậu quả 1.000.000đ (biên nhận tiền ngày 14/5/2024), cả hai khoản tiền này đã được bà Huỳnh Thị D2 là đại diện hợp pháp của bị hại A nhận trực tiếp nên không đề cập xem xét; riêng đối với gia đình bị cáo T tự nguyện nộp khắc phục hậu quả 2.000.000đ (Biên lai thu tiền số 0000525 ngày 13/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang); bị cáo V tự nguyện nộp khắc phục thêm 5.000.000₫ (Biên lai thu tiền số 0000529 ngày 15/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang); xét đậy là sự tự nguyện nên công nhận và phía gia đình bị hại A được nhận các khoản tiền này khi bản án có hiệu lực.
[10] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[11] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của các bị cáo: Phạm Lê Quốc C, Trần Lâm Đ, Phạm Văn B, Nguyễn Thanh T, Bùi Trọng N2, Nguyễn Quốc V, xem xét lại phần quyết định về hình phạt đối với các bị cáo Trần Minh T7, Văng Văn N5 và Nguyễn Minh T9. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 16/2024/HS-ST ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh An Giang.
Tuyên bố các bị cáo Phạm Lê Quốc C, Trần Lâm Đ, Phạm Văn B, Nguyễn Thanh T, Bùi Trọng N2, Nguyễn Quốc V, Trần Minh T7, Văng Văn N5 và Nguyễn Minh T9 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 54; Điều 65; Điều 90; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Phạm Lê Quốc C 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 04 (bốn) năm được tính kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 54; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trần Lâm Đ 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 02 (hai) năm được tính kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Phạm Văn B 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 02 (hai) năm được tính kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 54; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 02 (hai) năm được tính kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 iều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Bùi Trọng N2 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 02 (hai) năm được tính kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 54; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 04 (bốn) năm được tính kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Phạm Lê Quốc C cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; bị cáo Bùi Trọng N2 cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; bị cáo Trần Lâm Đ, bị cáo Phạm Văn B, bị cáo Nguyễn Quốc V cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; bị cáo Nguyễn Thanh T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
-
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 54; Điều 90; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Văng Văn N5 06 (sáu) tháng 03 (ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/11/2023.
Căn cứ Điều 299 và Điều 328 của Bộ Luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Văng Văn N5 nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.
-
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 54; Điều 90; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T9 06 (sáu) tháng 03 (ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/11/2023.
Căn cứ Điều 299 và Điều 328 của Bộ Luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Nguyễn Minh T9 nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.
-
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 54; Điều 90; Điều 91, 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Minh T7 09 (chín) tháng 24 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/8/2023.
- Căn cứ khoản 1 Điều 342 và Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trương Văn N.
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 591 Bộ luật dân sự 2015,
Bị hại Trần Duy A và người đại diện hợp pháp bà Huỳnh Thị D2 được nhận: 2.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000525 ngày 13/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang và 5.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000528 ngày 15/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2024/HS-ST ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố C, tỉnh An Giang không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thuận Lợi |
Bản án số 09/2024/HS-PT-CTN ngày 27/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 09/2024/HS-PT-CTN
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
