Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 09/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15/4/2024.

V/v “Tranh chấp về ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tòa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lâm Quang Tụng
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phú, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 182/2023/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc "Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa ngày 21/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, giữa:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị D, sinh năm 1985

Địa chỉ: Khu A, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1977

Địa chỉ: Khu D, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

(Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị D và anh Nguyễn Văn N kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 25/12/2018 tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc thời gian đầu, nhưng sau đó thì vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn cãi vã, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, mặc dù được gia đình hai bên khuyên bảo nhưng cả hai đều không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng anh chị sống ly thân cho tới nay. Khi sống ly thân thì vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Nay chị D đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N.

- Về con chung: Chị D xác định vợ chồng không có con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn N: Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Toà án để làm việc, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, không tham gia phiên toà.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành xác minh tại khu dân cư xác định: hiện nay anh N có mặt tại địa phương, ngày anh đi làm tối mới có mặt ở nhà. Đối với các văn bản tố tụng mà Toà án đã tống đạt cho trưởng khu, trưởng khu đã nhận và giao các văn bản đó cho anh N, đã thông báo cho anh biết để anh thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, tuy nhiên anh N vẫn vắng mặt tại Tòa án do đó anh N không có quan điểm về việc chị D khởi kiện. Ngoài ra chị D có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được.

Tại phiên tòa,

Theo đơn xin xét xử vắng mặt, Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Không bổ sung yêu cầu khởi kiện gì khác.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử

Chấp yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị D, cho chị D được ly hôn với anh Nguyễn Văn N. Về con chung: chị D xác nhận không có, không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị D xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Buộc chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thụ lý, xét xử là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuy đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh N cố tình không đến Tòa án để giải quyết vụ án, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, đã tống đạt hợp lệ cho anh N nhưng anh N vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa cho anh N. Tại phiên tòa lần thứ hai hôm nay anh N vẫn tiếp tục vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Còn chị D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N, chị D là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị D và anh Nguyễn Văn N đăng ký kết hôn tự nguyện ngày 25/12/2018 tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn là chị D trình bày cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Cụ thể mâu thuẫn là do anh N không quan tâm đến gia đình, nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhau, mặc dù đã tự hòa giải nhiều lần nhưng cả hai không tìm được tiếng nói chung. Thực tế hai anh chị không sống chung với nhau từ khi xảy ra mâu thuẫn, chị D đã về nhà bố mẹ đẻ tại xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ sinh sống từ... đến nay.

Do không có lời khai của anh N, Tòa án tiến hành xác minh tại tại địa phương xã T, huyện P (anh N ở riêng với con riêng, không ở chung với gia đình) nơi chị D và anh N đã từng chung sống xác định vợ chồng chị D, anh N có mâu thuẫn, hai vợ chồng đã sống ly thân, không ở cùng nhau. Quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Qua xác minh tại khu dân cư và chính quyền địa phương UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ cung cấp: Chị D và anh N đăng ký kết hôn ngày 25/12/2018 tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Về nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể của vợ chồng anh chị thì đại diện chính quyền địa phương đều không nắm rõ nhưng được biết anh chị đã sống ly thân nhau. Quán trình chung sống chị D và anh nam có xảy ra xo sát và cãi vã nhau nhưng đều không báo cáo chính quyền địa phương và khu dân cư được biết, hiện nay chị D đang khởi kiện xin ly hôn anh N tại Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Quá trình giải quyết tại Tòa án, mặc dù Tòa án đã đến tại gia đình anh N để tống đạt văn bản tố tụng về việc chị D yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N nhưng anh N đều vắng mặt không có lý do chính đáng tại tất cả các buổi làm việc của Tòa án. Điều này thể hiện anh N cũng không có mong muốn được đoàn tụ với chị D.

Như vậy có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D yêu cầu ly hôn là có căn cứ, cần chấp nhận. Còn anh N quá trình giải quyết vụ án tuy đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng và niêm yết hợp lệ xác định anh N đã nhận được văn bản tuy nhiên anh N vẫn vắng mặt, không hợp tác làm việc, cũng không có động thái gì để cải thiện cuộc sống hôn nhân của vợ chồng. Do đó xử cho chị D và anh N ly hôn là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Chị D xác nhận không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị D

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị D ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

- Về con chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Buộc chị Lê Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân. Xác nhận chị D đã nộp tạm ứng số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001027 ngày 01/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Trạm Thản, huyện Phù Ninh;
  • - Lưu: HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lý Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 09/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Dung xin ly hôn anh Nam
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger