Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02 - 8 - 2024

V/v: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vân

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Cẩm Nhung

Ông Lê Bá Chu

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc “Xin ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phan Bảo N, sinh năm 1997; Địa chỉ: Lô S, khu dân cư T, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Anh Lê Đình N1, sinh năm 1996 – Quốc tịch: Việt Nam; Địa chỉ: A, Nagoya S, N2, C Lescale C, Nhật Bản.

(Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của chị Phan Bảo N thì:

Chị Phan Bảo N và anh Lê Đình N1 kết hôn với nhau vào ngày 09/5/2022 tại T tại O, Nhật Bản, tại thời điểm đăng ký kết hôn chị là du học sinh còn anh N1 làm ở Công ty Ô tại Nhật Bản nên hai bên chưa tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn vợ chồng thuê nhà sống với nhau tại Nhật Bản được 03 tháng thì chị về Việt Nam tạm dừng việc học đến tháng 11/2022 thì sinh em bé. Quá trình sống chung vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được 5 tháng thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh N1 có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác và sống với nhau tại Nhật Bản. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, việc anh N1 có quan hệ ngoại tình với người phụ nữa khác và hai người đã có con chung thì chị không có ý kiến gì, chị yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc A, sinh ngày 18/11/2022. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung cho đến khi trưởng thành..

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Theo bản tự khai của anh Lê Đình N1 thì:

Anh và chị N1 kết hôn với nhau vào ngày 09/5/2022 tại T tại O, Nhật Bản. Quá trình sống chung vì lý do không hòa hợp nên vợ chồng quyết định sống ly thân từ tháng 3/2023 (trên thực tế không còn sống chung từ tháng 8/2022). Nay chị N1 có đơn xin ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc A, sinh ngày 18/11/2022. Khi ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị N1 nuôi dưỡng, anh đã tự nguyện cấp dưỡng số tiền 1.000.000.000đ (một tỷ đồng), hiện chị N1 vẫn đang giữ số tiền trên để nuôi dưỡng con đến khi trưởng thành.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Tại phiên toà hôm nay, cả chị Phan Bảo N và anh Lê Đình N1 đều có đơn yêu cầu Toà án hòa giải và xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phan Bảo N khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Đình N1 hiện đang cư trú tại địa chỉ: A, N, N, C Lescale C, Nhật Bản. Tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn đang sinh sống tại Nhật Bản. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 2 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn đã có bản tự khai và đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng tiến hành xét xử vắng mặt chị Phan Bảo N và anh Lê Đình N1.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Bảo N và anh Lê Đình N1 đăng ký kết hôn ngày 09/5/2022 tại T tại O, Nhật Bản (số I). Hôn nhân do hai bên tự nguyện. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định.

Quá trình sống chung anh chị đều thừa nhận vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng không tin tưởng nhau về tình cảm nên đã tự chấm dứt mọi quan hệ không còn quan tâm gì đến nhau từ tháng 8/2022 đến nay. Nay vợ chồng đều xác định không thể hàn gắn và đều có nguyện vọng xin được thuận tình ly hôn. Tuy nhiên, do chị Phan Bảo N và anh Lê Đình N1 vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ các quy định tại Điều 51, Điều 55, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị N1 và anh N1 được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Ngọc A, sinh ngày 18/11/2022. Ly hôn hai bên thỏa thuận giao con chung cho chị N1 nuôi dưỡng, anh N1 đã tự nguyện cấp dưỡng 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) để chị N1 nuôi dưỡng con chung cho đến khi trưởng thành.

Tài sản chung và nghĩa vụ trả nợ: Chị N1 và anh Lê Đình N1 đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị N1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 57, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 37, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 16 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ N3 và Tòa án nhân dân tối cao.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Bảo N. Cho chị Phan Bảo N và anh Lê Đình N1 được ly hôn.

2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Lê Ngọc A, sinh ngày 18/11/2022 cho chị Phan Bảo N được quyền chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Anh Lê Đình N1 tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 1.000.000.000đ (một tỷ đồng). Chị N1 đã nhận đủ.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.

2. Về án phí: Chị Phan Bảo N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ toàn bộ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008728 ngày 13/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo của chị Phan Bảo N là 15 (mười lăm) ngày, thời hạn kháng cáo của anh Lê Đình N1 là 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP HCM;
  • - VKSND tỉnh LĐ;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Cục THADS tỉnh Lâm Đồng;
  • - Các đương sự (02);
  • - Lưu AV - HS (04).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn

  • Số bản án: 09/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phan Bảo Ngọc “Xin ly hôn” Anh Lê Đình Ngọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger