TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2024/HC-ST;
Ngày: 11/6/2024;
Về khiếu kiện: “Quyết định
hành chính trong lịch vực
quản lý đất đai”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Cao Văn Viết;
- Bà Nguyễn Thị Kiều Oanh;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Nhật Hạ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, xét xử sơ thẩm công khai vụ án đã thụ lý số 23/2023/TLST-HC ngày 23/10/2023 “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất".
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 1440/2024/QĐXXST-HC ngày 22 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện:
Ông Du Văn H, sinh năm 1967; (Có mặt)
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Người bị kiện:
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc T – Chủ tịch UBND tỉnh B. (có đơn xin giải quyết vắng mặt);
1
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Minh T1 – Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Bến Tre; (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Lê Quang T2 – Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B, tỉnh Bến Tre. (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh B.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Quốc T3 – Giám đốc Ban quản lý rừng phồng hộ và đặc dụng tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hải N – Chuyên viên Ban quản lý rừng phồng hộ và đặc dụng tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản đối thoại cũng như tại phiên toà, người khởi kiện - ông Du Văn H trình bày:
Ông Hồng sinh ra và lớn lên trong gia đình giàu truyền thống cách mạng, bản thân ông H lớn lên tham gia nghĩa vụ quân sự. Năm 1990 sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về quê, ông H thấy vùng đất ven biển xã A còn bỏ hoang chưa có giá trị sử dụng nên ra sức bồi đắp, cải tạo được một phần đất diện tích qua đo đạc là 1115,4m², thuộc thửa đất số 10, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã A. Đồng thời, vào năm 1992 ông H có mua lại của ông Văn Công L diện tích khoảng 1000m² liền kề thửa đất số 10 của ông H.
Vào năm 1992 ông H cất một căn nhà trên đất để sinh sống. Đến năm 1997 cơn bảo số 5 tàn phá căn nhà hư hại nặng nề. Lúc này, chú vợ của ông H là ông Phan Văn C bán lại cho ông H 01 căn nhà (ông H đang ở hiện nay), nhưng ông H vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng, gìn giữ phần đất ven biển, thường xuyên cải tạo đất, bồi đắp những chỗ bị sạt lỡ và trồng cây chống sạt lỡ.
Đến năm 2007 chính quyền địa phương tiến hành xây dựng tuyến đê biển đã lấy của ông H khoảng 1.000m². Lúc đó ông Nguyễn Thanh H1 - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B và ông Trần Nguyên P - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A đã động viên khuyên ông H1 không xin tái định cư mà tiếp tục bồi đắp sử dụng phần đất còn lại ở ngoài đê. Sau đó Ủy ban nhân dân xã A cho tiến hành đo đạc, xác lập thửa 10, tờ bản đồ số 3, diện tích 1115,4m², mục đích sử dụng ON+ CLN tên chủ sử dụng là Du Văn H.
2
Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh B có chủ trương xây dựng Cảng cá B, đã ban hành quyết định thu hồi phần diện tích 1115,4m² nhưng không quyết định thu hồi đất trực tiếp đối với ông H, nên đất vẫn thuộc quyền sử dụng của ông H, đồng thời không xem xét đến công sức khai hoang, phục hóa, cải tạo, gìn giữ đất của ông H suốt 32 năm là trái với Điều 9 luật đất đai năm 2013. Không xem xét giải quyết cho ông H phần đất tái định cư là không công bằng.
Ông H làm đơn kiến nghị gửi đến Ủy ban nhân dân yêu cầu được tiếp tục sử dụng phần diện tích 1115,4m² hoặc được bố trí một nền đất tái định cư. Ngày 27/9/2022 Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Công văn số 3351/UBND-NC trả lời là không đủ điều kiện để xem xét đơn kiến nghị của ông H.
Ông H có đơn khiếu nại Công văn số 3351/UBND-NC của Ủy ban nhân dân huyện B. Ngày 23/12/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định 3094/QĐ-UBND không công nhận đơn khiếu nại của ông H.
Không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, ông H tiếp tục khiếu nại lần hai đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B. Ngày 14/4/2023 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 780/QĐ-UBND không công nhận đơn khiếu nại của ông H.
Do vậy, ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- + Hủy Quyết định số 780/QĐ-UBND ngày 14/4/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B.
- + Hủy Quyết định số 3094/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B.
- + Hủy Công văn số 3351/UBND-NC của chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B.
* Theo văn bản số 7146/UBND-NC ngày 20/11/2023 của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B trình bày:
Thực hiện Thông báo số 3690/TB-TA ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Bến Tre về việc thông báo yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ trong vụ án khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai của ông Du Văn H, địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bến Tre có ý kiến phúc đáp đến TAND tỉnh như sau: Thửa đất số 10, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.115,4m², tọa lạc tại xã A, huyện B trước đây là đất bãi bội do Nhà nước quán lý. Ngay 07/6/1994, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 381/QĐ-UB về việc thu hồi đất và giao đất cho B chủ dự án huyện B (nay là Ban quản lý rừng Phòng họ và Đặc dụng tỉnh) thực hiện
3
Dự án L1 Ngư nghiệp và phòng hộ ven biên Ba Tri (trong đó có thửa đất số 10). Trước năm 1997, ông Du Văn H có mua một phần đất (không xác định được diện tích) của ông Văn Công L để sử dụng, khai thác rừng (việc mua bán được lập bằng giấy tay). Ngày 03/12/2008, UBND huyện B ban hành Quyết định số 2785/QĐUBND về việc thu hồi đất thực hiện Dự án xây dựng tuyên đê biên đi qua xã A, huyện B. Hộ ông Du Văn H không được hỗ trợ, bôi thường thiệt hại do phần đất của ông đã bị sạt lở và có nguồn gốc là đất rừng. Năm 2010, ông Du Văn H vào bao chiếm một phần đất tiếp giáp với thửa đất đã được thu hồi xây dựng tuyến đê biển (ngang khoảng 20m, dài khoảng 33m) và ông Phạm Văn Ú chiếm phần đất liền kể (ngang khoảng 10m, dài khoảng 33m); đồng thời tiến hành san lấp mặt bằng đê cất nhà tạm và trồng cây ăn trái. Ngày 02/8/2010 và ngày 05/8/2010, P1 khu B (thuộc Ban Q và Đặc dụng tỉnh) lập biên bản vụ việc, theo đó đề nghị 04 hộ dân (trong đó có hộ ông H) chấm dứt việc lấn chiếm, san lấp mặt bằng. Ngày 11/7/2013, UBND xã A, huyện B phối hợp Phân khu Ba Tri mời hộ ông Du Văn H và 03 hộ khác, gồm: Ông Hồ Văn Đ (con rễ ông Nguyên Văn N1), ông Phạm Văn Ú (con ông Phạm Văn T4), ông Nguyễn Văn H2 đến làm việc để xác định việc bao chiếm đất rừng phòng hộ nhưng ông Du Văn H không đến mà giao cho con là ông Du Thanh P2 tham dự thay. Năm 2014, thực hiện dự án đo đạc Vlap thì phần đất ông Du Văn H và ông Phạm Văn Ú bao chiếm thuộc thửa số 10 tờ bản đồ số 3, diện tích 1.115,4m² (nêu trên). Thực hiện Dự án Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá kết hợp Cảng cá B, UBND huyện B ban hành Quyết định số 1973/QĐ-UBND ngày, 02/10/2018 thu hồi diện tích 180,1m² (một phần thửa số 10) và Quyết định số 6449/QĐ-UBND ngày 08/12/2021 thu hồi diện tích 935,3m² (một phần thứa số 10 còn lại) của Ban quản lý rừng Phòng hộ và Đặc dụng tỉnh B để thực hiện Dự án. Ngày 24/11/2017, UBND tỉnh ban hành Công văn số 5445/UBND-TCĐT về việc phê duyệt chính sách hỗ trợ cho 04 hộ dân nằm trong khu vực bị giải tỏa; theo đó, mức hỗ trợ đối với nhà ở, vật kiến trúc, cây trồng bằng 60% đơn giá quy định (theo Tờ trình số 3136/TTr-STNMT ngày 20/11/2017 của Sở T7). Theo phương án phê duyệt tại Quyết định số 36/QĐ-UBND ngày 10/11/2018 của UBND huyện thì hộ ông H được hỗ trợ thêm số tiền 10.000.000 đồng (từ nguồn vận động), nhưng ông H không đồng ý nhận tiền mà gửi đơn yêu cầu hỗ trợ thêm cho ông 01 nền tái định cư diện tích khoảng 200m² để các con ông cất nhà ở. Ngày 18/10/2021, UBND tỉnh ban hành Công văn số 6819/UBND-KT về việc giao đất, bố trí tái định cư cho hộ dân khi giải phóng mặt bằng Cảng cá B; thống nhất bố trí nền tái định cư cho 02/4 hộ dân đủ điều kiện, gồm: Hộ ông Hồ Văn Đ, ông Phạm Văn Ú (theo Báo cáo số 4305/BC-STNMT ngày 01/10/2021 của Sở T7). Ngày 27/9/2022, UBND huyện B ban hành Công văn số 3351/UBND-
4
NC về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Du Văn H; khẳng định việc ông Du Văn H kiến nghị xin được tiếp tục sử dụng thửa đất số 10, tờ bản đồ số 3, xã A, huyện B hoặc bố trí nên tái định cư là không có cơ sở xem xét giải quyết (lý do là ông Du Văn H có đất và nhà ở kiên cố tai xã A). Ông Du Văn H gửi đơn khiếu nại Công văn số 3351/UBND-NC ngày 27/9/2022 của UBND huyện B, yêu cầu hỗ trợ bố trí nền tái định cư. Ngày 23/12/2022, Chủ tịch UBND huyện B ban hành Quyết định số 3094/QĐ-UBND, giải quyết không công nhận nội dung đơn khiếu nại của ông Du Văn H. Ngày 16/01/2023, ông Du Văn H tiếp tục gửi đơn khiếu nại Quyết định số 3094/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 của UBND huyện B đến Chủ tịch UBND tỉnh B, Ngày 14/4/2023, Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 780/QĐ-UBND, giải quyết không công nhận nội dung đơn khiếu nại của ông Du Văn H. Từ những căn cứ nêu trên, Chủ tịch UBND tỉnh nhận thấy:
- Việc ông Du Văn H khiếu nại Quyết định số 3094/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 của UBND huyện B, yêu cầu bố trí 01 nên tái định cư là không có cơ sở và không đủ điều kiện để được xem xét giải quyết theo quy định tại Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 14/8/2019 của UBND tỉnh B về việc ban hành Quy định về bối thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre (lý do: Ông Du Văn H có đất và nhà ở kiên cố cùng địa phương (tại thửa đất số 294, tờ bản đố số 26, diện tích 554,2m²(CLN+ONT) và diện tích 5.270,9m² đất CLN; mặt khác, phần đất bị thu hồi do Ban Q và Đặc dụng tỉnh quản lý).
- Quyết định số 3094/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 của Chủ tịch UBND huyện B và Quyết định số 780/QĐ-UBND ngày 14/4/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh giải quyết không công nhận nội dung đơn khiếu nại của ông Du Văn H là đúng quy định pháp luật.
* Theo văn bản số 4276/UBND-NC ngày 23/11/2023 của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre trình bày:
Căn cứ Thông báo số 3691/TB-TA ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre về việc thông báo cung cấp chứng cứ trong vụ án "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai" giữa người khởi kiện ông Du Văn H, địa chỉ khu phố A, thị trân T, huyện B, tỉnh Bến Tre với người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện B, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B. Qua kiểm tra, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện có ý kiến như sau: Diện tích 1.115,4 m², thửa đất số 10, tờ bản đồ số 3, xã A (nay là thị trấn T) trước đây là đất bãi bồi, do Nhà nước quản lý. Ngày 07 tháng 6 năm 1994, Uỷ ban nhân dân tỉnh có Quyết định số 381/QĐ-UB về việc
5
thu hồi đất và giao đất cho Ban chủ dự án Ba Tri thực hiện Dự án L1 Ngư nghiệp và phòng hộ ven biển B (nay là Ban Q và đặc dụng tỉnh) quản lý. Trước đây, hộ ông Trần Văn T5 (cha vợ ông Du Văn H) có cất nhà ở trên phần đất gần thửa đất số 10, tờ bản đồ số 3, xã A (trên tuyến đê biến hiện nay), phần đất này có nguồn gốc là đất bãi bồi trồng rừng do Nhà nước quản lý. Thực hiện Dự án đê biến, ngày 03 tháng 12 năm 2008, Ủy ban nhân dân huyện ban hành Quyết định số 1785/QĐ-UBND về việc thu hồi đất thực hiện Dự án xây dựng tuyến đê biến đi qua xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre, trong đó có phần diện tích đất của hộ gia đình ông Trần Văn T5 cất nhà ở trước đây. Tuy nhiên, qua rà soát thì hộ ông Trần Văn T5 trước đây cất nhà ở trên phần đất rừng do Nhà nước quản lý, khi thực hiện Dự án đê biển thì phần nhà và đất của ông Trần Văn T5 đã bị sạt lở hết. Đồng thời, ông Trần Văn T5 đã cất nhà ở nơi khác nên không được bồi thường, hỗ trợ. Tuy nhiên, sau khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện Dự án đê biển, ông Du Văn H trở lại chiếm đất rừng phòng hộ (phía trước phần đất ông Trần Văn T5 ở đã được thu hồi để xây dựng đê biển) phần đất ông Du Văn H chiếm là thửa đất số 10, tờ bản đồ số 3, xã A thuộc đất Lâm nghiệp, Ban Q. Năm 2010, khi ông Du Văn H thổi đất để cất nhà trên phần đất thuộc quản lý của Ban Q và đặc dụng tỉnh thì Ban Q và đặc dụng đã tiến hành lập biên bản vụ việc (biên bản được lập vào ngày 02/8/2010 và ngày 05/8/2010). Tiếp đó, ngày 11 tháng 7 năm 2013, Ủy ban nhân dân xã A phối hợp Phân khu rừng phòng hộ và đặc dụng có mời hộ ông Du Văn H và 3 hộ khác đến làm việc để xác định việc chiếm đất rừng, nhưng ông Du Văn H vẫn tiếp tục chiếm đất và cất nhà tạm với loại cột xi măng, mái lợp tol, không dừng vách và trồng một số cây tạp trên phần đất này. Năm 2015, thực hiện Dự án Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá kết hợp Cảng cá B, Ủy ban nhân dân huyện B đã ban hành quyết định thu hồi đất của Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh B để thực hiện Dự án, trong đó có thửa đất số 10, tờ bản đồ số 3, xã A. Thực hiện chủ trương bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thực hiện Dự án Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá kết hợp Cảng cả B tại Công văn số 5445/UBND-TCĐT, ngày 24 tháng 11 năm 2017 của Úy ban nhân dân tỉnh thì ông Du Văn H được xem xét bồi thường nhà tạm và cây trồng trên đất với số tiền bồi thường là 16.374.900 đồng và sau đó được hỗ trợ thêm 10.000.000 đồng. Qua kiếm tra, xác minh, Dự án Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá kết hợp Cảng cá B đã được xây dựng hoàn thành và chuẩn bị đưa vào sử dụng. Bên cạnh đó, khi thực hiện Dự án Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá kết hợp Cảng cá B, ông Du Văn H có đất và đã cất nhà ở kiên cố tại Tổ NDTQ số 11, ấp A, xã A (nay là khu phố A, thị trấn T), huyện B nên việc ông H yêu cầu xem xét giải quyết một phần đất tái định cư là không đủ điều kiện để xem xét. Ngày 27 tháng 9 năm 2022, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Công
6
văn số 3351/UBND-NC về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Du Văn H, khẳng định việc ông Du Văn H kiến nghị xin được tiếp tục sử dụng thửa đất số 10, tờ bản đồ số 3, xã A (nay là thị trần Tiệm Tôm) hoặc bố trí nền tái định cư là không có cơ sở xem xét giải quyết. Sau đó, ông Du Văn H gửi đơn khiếu nại Công văn số 3351/UBND-NC ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Ủy ban nhân dân huyện B đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, yêu cầu hỗ trợ bố trí nền tái định cư. Ngày 20 tháng 12 năm 2022, Ủy ban nhân dân huyện T tiếp xúc, đối thoại với ông Du Văn H. Tại buổi đối thoại, ông Du Văn H không đồng ý với nội dung Công văn số 3351/UBND-NC ngày 27 tháng 9 năm 2022 về việc trả lời đơn kiến nghị của công dân, đồng thời đề nghị Ủy ban nhân dân huyện X giải quyết một phần đất tái định cư nhưng ông Du Văn H cũng không trình bày được tình tiết mới để chứng minh, do đó nội dung khiểu nại của ông Du Văn H không có cơ sở xem xét. Ngày 23 tháng 12 năm 2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 3094/QĐ-UBND, giải quyết không công nhận nội dung đơn khiếu nại của ông Du Văn H. Ngày 16 tháng 01 năm 2023, ông Du Văn H tiếp tục gửi đơn khiếu nại Quyết định số 3094/QĐ-UBND ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B. Ngày 14 tháng 4 năm 2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 780/QĐ-UBND, giải quyết không công nhận nội dung đơn khiếu nại của ông Du Văn H; Công nhận và giữ nguyên Quyết định số 3094/QĐ-UBND ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B về việc giải quyết khiếu nại của ông Du Văn H. Từ những cơ sở trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N thấy việc ban hành Quyết định số 3094/QĐ-UBND và Quyết định số 780/QĐ-UBND là phù hợp theo quy định của pháp luật. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B không chấp nhận việc ông Du Văn H yêu cầu hủy Quyết định số 3094/QĐ-UBND ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B và Quyết định số 780/QĐ-UBND ngày 14 tháng 4 năm 2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B.
Tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – Ban quản lý rừng phồng hộ và đặc dụng tỉnh Bến Tre trình bày:
Ngày 07/6/1994, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 381/QĐ-UB về việc thu hồi đất và giao đất cho B chủ dự án huyện B (nay là Ban Q và đặc dụng tỉnh) quản lý.
Ngày 03/12/2008, UBND huyện B ban hành Quyết định số 2785/QĐUBND về việc thu hồi đất thực hiện dự án xây dựng tuyến đê biển đi qua xã A, huyện B của nhiều hộ dân, trong đó có hộ của ông Nguyễn Văn N2, ông Phạm Văn T6 (cha ông Phạm Văn Ú), ông Nguyễn Văn H2 và ông Trần
7
Văn T5 (cha vợ ông Du Văn H). Hộ ông N2, ông T6 được Nhà nước đền bù tiền và cấp 01 nền tái định cư nhưng sau đó đã bán đất cho người khác; hộ ông H2 cũng được đền bù tiền và nhận thêm 20.000.000 đồng để cất nhà nơi khác ở; riêng hộ ông H không được hỗ trợ, đền bù do phần đất của ông H đã bị sạt lở và có nguồn gốc là đất rừng.
Năm 2010, hộ ông N2, ông Ú, ông H2, ông H lấn chiếm phần đất được Ủy ban nhân dân tỉnh B giao cho Ban Q và đặc dụng tỉnh quản lý. Phần của ông H và ông Ú lấn chiếm san lấp mặt bằng trồng cây ăn trái, cất nhà tạm ở qua đo đạc Vlap thuộc thửa số 10, diện tích 1.115,4m². Ngày 02/8/2010 và ngày 05/8/2010, P1 khu B (thuộc Ban Q và đặc dụng tỉnh) lập biên bản vụ việc, theo đó đề nghị 04 hộ dân chấm dứt việc lấn chiếm, san lấp mặt bằng.
Thực hiện dự án Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá kết hợp Cảng cá B, UBND huyện B ban hành Quyết định số 1973/QĐ-UBND ngày 02/10/2018 thu hồi diện tích 180,1m² một phần thửa số 10 và Quyết định số 6449/QĐ-UBND ngày 08/12/2021 thu hồi diện tích 935,3m² phần đất còn lại thửa số 10 của Ban quản lý rừng Phòng hộ và Đặc dụng tỉnh B để thực hiện dự án.
Ban quản lý rừng Phòng hộ và Đặc dụng tỉnh B đã bàn giao đất theo đúng quy định của pháp luật và đã thực hiện xong dự án trồng lại rừng phòng hộ. Do đó, việc ông H khởi kiện yêu cầu huỷ Công văn số 3351, ông H vẫn tiếp tục khiếu nại. Chủ tịch UBND huyện B ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 3094/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 và Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 780/QĐ-UBND ngày 14/4/2023 về việc giải quyết khiếu nại lần 2 Ban quản lý rừng Phòng hộ và Đặc dụng tỉnh B đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Du Văn H về việc yêu cầu hủy Công văn số 3351/UBND-NC của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, hủy Quyết định số 3094/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, hủy Quyết định số 780/QĐ-UBND ngày 14/4/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
8
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thấy:
[1] Về tố tụng:
Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B; Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 157 Luật Tố tụng hành chính thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B; chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện.
Công văn số 3351/UBND-NC do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre ban hành nên xác định Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre là người bị kiện là phù hợp theo quy định theo khoản 9 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về đối tượng khởi kiện:
Ông Du Văn H khởi kiện yêu cầu huỷ:
- + Quyết định số 780/QĐ-UBND ngày 14/4/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B.
- + Quyết định số 3094/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B.
- + Công văn số 3351/UBND- ngày 27/9/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ Khoản 1, 2 Điều 3 và các Điều 30, 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì quyết định hành chính trên thuộc đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính.
[3] Về thời hiệu khởi kiện
Ngày 27/9/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Công văn số 3351/UBND-NC trả lời đơn kiến nghị của ông H. Ngày 21/10/2022 ông H khiếu nại Công văn số 3351/UBND-NC đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B. Ngày 23/12/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 3094/QĐ-UBND không công nhận đơn khiếu nại của ông H. Ngày 16/01/2023 ông H khiếu nại Quyết định 3094/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B. Ngày 14/4/2023 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định 780/QĐ-UBND không công nhận đơn
9
khiếu nại của ông H. Ngày 02/6/2023 Tòa án nhận được đơn khởi kiện của ông H.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính, thời hiệu khởi kiện của ông Du Văn H vẫn còn đối với các Quyết định hành chính nêu trên.
[4] Về trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính:
Ngày 07/6/1994, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 381/QĐ-UB về việc thu hồi đất và giao đất cho B chủ dự án huyện B (nay là Ban quản lý rừng Phòng họ và Đặc dụng tỉnh) thực hiện Dự án L1 Ngư nghiệp và phòng hộ ven biên Ba Tri (trong đó có thửa đất số 10). Trước năm 1997, ông Du Văn H có mua một phần đất (không xác định được diện tích) của ông Văn Công L để sử dụng, khai thác rừng (việc mua bán được lập bằng giấy tay). Ngày 03/12/2008, UBND huyện B ban hành Quyết định số 2785/QĐUBND về việc thu hồi đất thực hiện Dự án xây dựng tuyên đê biên đi qua xã A, huyện B. Hộ ông Du Văn H không được hỗ trợ, bôi thường thiệt hại do phần đất của ông đã bị sạt lở và có nguồn gốc là đất rừng. Năm 2010, ông Du Văn H vào bao chiếm một phần đất tiếp giáp với thửa đất đã được thu hồi xây dựng tuyến đê biển (ngang khoảng 20m, dài khoảng 33m) và ông Phạm Văn Ú chiếm phần đất liền kể (ngang khoảng 10m, dài khoảng 33m); đồng thời tiến hành san lấp mặt bằng đê cất nhà tạm và trồng cây ăn trái. Ngày 02/8/2010 và ngày 05/8/2010, P1 khu B (thuộc Ban Q và Đặc dụng tỉnh) lập biên bản vụ việc, theo đó đề nghị 04 hộ dân (trong đó có hộ ông H) chấm dứt việc lấn chiếm, san lấp mặt bằng. Ngày 11/7/2013, UBND xã A, huyện B phối hợp Phân khu Ba Tri mời hộ ông Du Văn H và 03 hộ khác, gồm: Ông Hồ Văn Đ (con rễ ông Nguyễn Văn N2), ông Phạm Văn Ú (con ông Phạm Văn T4), ông Nguyễn Văn H2 đến làm việc để xác định việc bao chiếm đất rừng phòng hộ nhưng ông Du Văn H không đến mà giao cho con là ông Du Thanh P2 tham dự thay. Năm 2014, thực hiện dự án đo đạc Vlap thì phân đất ông Du Văn H và ông Phạm Văn Ú bao chiếm thuộc thửa số 10 tờ bản đồ số 3, diện tích 1.115,4m² (nêu trên). Thực hiện Dự án Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá kết hợp Cảng cá B, UBND huyện B ban hành Quyết định số 1973/QĐ-UBND ngày, 02/10/2018 thu hồi diện tích 180,1m² (một phần thửa số 10) và Quyết định số 6449/QĐ-UBND ngày 08/12/2021 thu hồi diện tích 935,3m² (một phần thứa số 10 còn lại) của Ban quản lý rừng Phòng hộ và Đặc dụng tỉnh B để thực hiện Dự án. Ngày 24/11/2017, UBND tỉnh ban hành Công văn số 5445/UBND-TCĐT về việc phê duyệt chính sách hỗ trợ cho 04 hộ dân nằm trong khu vực bị giải tỏa; theo đó, mức hỗ trợ đối với nhà ở, vật kiến trúc, cây trồng bằng 60% đơn giá quy định (theo Tờ trình số 3136/TTr-STNMT ngày 20/11/2017 của Sở Tài
10
nguyên và Mỗi trường). Theo phương án phê duyệt tại Quyết định số 36/QĐ-UBND ngày 10/11/2018 của UBND huyện thì hộ ông H được hỗ trợ thêm số tiền 10.000.000 đồng (từ nguồn vận động), nhưng ông H không đồng ý nhận tiền mà gửi đơn yêu cầu hỗ trợ thêm cho ông 01 nền tái định cư diện tích khoảng 200m² để các con ông cất nhà ở.
Ngày 18/10/2021, chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Công văn số 6819/UBND-KT về việc giao đất, bố trí tái định cư cho hộ dân khi giải phóng mặt bằng Cảng cá B; thống nhất bố trí nền tái định cư cho 02/4 hộ dân đủ điều kiện, gồm: Hộ ông Hồ Văn Đ, ông Phạm Văn Ú (theo Báo cáo số 4305/BC-STNMT ngày 01/10/2021 của Sở T7).
Ngày 27/9/2022, UBND huyện B ban hành Công văn số 3351/UBND-NC về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Du Văn H; khẳng định việc ông Du Văn H kiến nghị xin được tiếp tục sử dụng thửa đất số 10, tờ bản đồ số 3, xã A, huyện B hoặc bô trí nên tái định cư là không có cơ sở xem xét giải quyết (lý do là ông Du Văn H có đất và nhà ở kiên cố tai xã A). Sau đó, ông Du Văn H gửi đơn khiêu nại Công văn số 3351/UBND-NC ngày 27/9/2022 của UBND huyện B, yêu cầu hỗ trợ bố trí nền tái định cư. Ngày 23/12/2022, Chủ tịch UBND huyện B ban hành Quyết định số 3094/QĐ-UBND, giải quyết không công nhận nội dung đơn khiếu nại của ông Du Văn H. Ngày 16/01/2023, ông Du Văn H tiếp tục gửi đơn khiếu nại Quyết định số 3094/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 của UBND huyện B đến Chủ tịch UBND tỉnh, Ngày 14/4/2023, Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 780/QĐ-UBND, giải quyết không công nhận nội dung đơn khiêu nại của ông Du Văn H.
Căn cứ các điều 18, 21, 36, 37, 38, 39, 40 Luật khiếu nại 2011, xét thấy Quyết định số 3094/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, Quyết định số 780/QĐ-UBND ngày 14/4/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B, công văn số 3351/UBND-NC ngày 27/9/2022 của chủ tịch UBND huyện B được ban hành đúng trình tự, thủ tục và đúng thẩm quyền.
[5] Về tính hợp pháp và căn cứ của quyết định hành chính:
Ông H yêu cầu Tòa án hủy Công văn số 3351/UBND-NC của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, hủy Quyết định số 3094/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, hủy Quyết định số 780/QĐ-UBND ngày 14/4/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B.
[5.1] Xét về nguồn gốc đất:
Phần diện tích 1.115,4m² thửa 10, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã A, huyện B ông H cho rằng có nguồn gốc của ông H bồi đắp, cải tạo từ năm 1990. Năm
11
1992 ông H mua thêm 1.000m² đất của ông Văn Công L giáp với thửa đất số 10 ông H bồi đắp. Ủy ban nhân dân huyện B, Ủy ban nhân dân tỉnh B cho rằng phần đất ông H mua của ông L đã bị sạt lỡ, thửa số 10 là đất thuộc quyền quản lý của Nhà nước, đến năm 1994 Ủy ban nhân dân huyện B có quyết định giao đất cho Ban chủ dự án huyện B (nay là Ban Q và đặc dụng tỉnh) quản lý.
[5.2] Xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy:
Theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất do ông H cung cấp phần diện tích đất 1.115,4m² thửa 10, mục đích sử dụng đất ONT+CLN tên người sử dụng đất là Du Văn H, phiếu xác nhận kết quả đo đạc này không ghi ngày tháng đo đạc, không được cơ quan có thẩm quyền ký xác nhận, hơn nữa phiếu xác nhận kết quả đo đạc không có giá trị chứng minh thửa đất số 10 thuộc quyền sử dụng của ông H.
Quá trình sử dụng đất, ông H không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mà phần đất trên vào ngày 07/6/1994 Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 381/QĐ-UB về việc thu hồi đất và giao đất cho Ban chủ dự án huyện B thực hiện dự án lâm nghiệp và phòng hộ ven biển Ba Tri quản lý (có bản đồ quy hoạch kèm theo), đến năm 2014 đo đạc Vlap xác định phần đất ông H và ông Phạm Văn Ú sử dụng diện tích 1.115,4m² thửa số 10, mục đích sử dụng đất rừng phòng hộ, lúc này hộ ông H không có ý kiến phản đối hay khiếu nại gì.
Đối với phần đất hộ ông H mua của ông Văn Công L vào năm 1992, Ủy ban nhân dân huyện B cũng thừa nhận có việc này, nhưng qua xác minh những người dân sống gần thửa đất số 10 (ông Nguyễn Văn R, ông Văn Chí S) cung cấp: phần đất của hộ ông H mua của ông L sát bờ biển nên đã bị sạt lỡ, sau đó ông H cất nhà tạm trên phần đất do Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh B quản lý. Ngày 02/8/2010 và ngày 05/8/2020 P1 khu Ba Tri có sự chứng kiến của chính quyền địa phương lập biên bản về việc 04 hộ dân thổi đất bồi giồng cất nhà, trong đó có hộ của ông Trần Văn T5 (cha vợ ông H để lại cho ông H); ngày 11/7/2013 Ủy ban nhân dân xã và cán bộ Phân khu lập biên bản về việc các hộ dân chiếm đất rừng, hộ của ông H chiếm chiều dài từ dưới chân đê biển đến giáp rừng là 38m, chiều rộng 18m. Tại Biên bản đối thoại ngày 29/11/2018 giữa Ủy ban nhân dân huyện B với các hộ dân (ông H, ông H2, ông Đ), các hộ dân thừa nhận phần đất đang sử dụng là đất của Nhà nước. Từ các vấn đề nêu trên, có cơ sở xác định diện tích đất 1.115,4m² thửa số 10 là đất của Nhà nước, được Ủy ban nhân dân tỉnh B giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh B quản lý từ năm 1994.
12
Ngày 02/10/2018 Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 1973/QĐ-UB về việc thu đất của Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh B để thực hiện dự án Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá kết hợp cảng cá B thu hồi diện tích 180,1m² một phần thửa số 10 và Quyết định số 6449/QĐ-UBND ngày 08/12/2021 thu hồi diện tích 935,3m² phần đất còn lại thửa số 10 để thực hiện dự án là phù hợp với quy định pháp luật. Ông H cho rằng, Ủy ban nhân dân huyện B quyết định thu hồi thửa đất số 10 không trực tiếp đối với ông nên đất vẫn thuộc quyền sử dụng của ông H là không có căn cứ.
Ông H còn cho rằng, trên thửa đất số 10 có căn nhà của ông H cất trên đất từ năm 1992 đến nay, khi Nhà nước thu hồi đất phải cấp cho hộ ông H 01 nền tái định cư để ổn định đời sống sản xuất, phát triển. Nhận thấy, tại Điều 75 Luật Đất đai quy định về điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng:
“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.”.
Khoản 2 Điều 77 Luật Đất đai quy định: “Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này.”.
Hộ ông H không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên không đủ điều kiện để được bồi thường theo quy định nêu trên của pháp luật. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 5 Điều 7 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014
13
của Chính phủ “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà có nguồn gốc do lấn, chiếm khi Nhà nước thu hồi đất nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước giao đất ở mới có thu tiền sử dụng đất hoặc bán nhà ở tái định cư. Giá đất ở tính thu tiền sử dụng đất, giá bán nhà ở tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định,”.
[5.3] Như vậy, phần đất ông H sử dụng có nguồn gốc do lấn, chiếm, hiện ông H có phần đất khác và cất nhà kiên cố trên phần diện tích 554.2m² thửa 294, tờ bản đồ 26 tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện B, nên ông H không đủ điều kiện để Nhà nước giao đất ở mới có thu tiền sử dụng đất hoặc bán nhà ở tái định cư theo quy định pháp luật.
Ngày 27/9/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Công văn số 3351/UBND-NC trả lời không đủ điều kiện để xem xét hỗ trợ bố trí nền tái định cư cho ông H là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Không đồng ý nội dung Công văn số 3351/UBND-NC, ông H khiếu nại Công văn số 3351/UBND-NC đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B. Ngày 23/12/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 3094/QĐ-UBND không công nhận đơn khiếu nại của ông H. Ngày 16/01/2023 ông H khiếu nại Quyết định 3094/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B. Ngày 14/4/2023 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định 780/QĐ-UBND không công nhận đơn khiếu nại của ông H là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Do vậy, ông H khởi kiện yêu cầu hủy Công văn số 3351/UBND-NC của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, hủy Quyết định số 3094/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, hủy Quyết định số 780/QĐ-UBND ngày 14/4/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B là không có cơ sở để xem xét chấp nhận.
[6] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Án phí hành chính sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện ông Du Văn H không được chấp nhận nên ông Du Văn H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 30, Điều 32, Điều 79, Điều 158, điểm a Khoản 2 Điều 193, khoản 2 Điều 348; Điều 206 Luật Tố tụng hành chính;
14
Căn cứ Điều 106 Luật Đất đai 2013; Luật Đất đai 2003;
Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Du Văn H về việc yêu cầu:
- + Hủy Quyết định số 780/QĐ-UBND ngày 14/4/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B.
- + Hủy Quyết định số 3094/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B.
- + Hủy Công văn số 3351/UBND-NC ngày 27/9/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B.
2/ Về án phí hành chính sơ thẩm: Ông Du Văn H thuộc trường hợp phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định của pháp luật nhưng được khấu trừ theo biên lai số 0007684 ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.
3/ Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo; các đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Chí Đức |
15
Bản án số 09/2024/HC-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 09/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quyết định hành chính trong lịch vực quản lý đất đai
