TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2024/DSPT Ngày 18 - 11 - 2024 V/v: Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Nguyễn Tiến Dũng |
| Các Thẩm phán: | Ông Mai Anh Tuấn |
| Ông Bùi Văn Biền |
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng Dần - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 12/2024/TLPT-DS ngày 10/10/2024 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 380/2024/QĐXX-PT ngày 29 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Y, sinh năm 1971; địa chỉ: Xóm Đ, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn:
- Ông Phạm Văn B, sinh năm 1962; địa chỉ: Xóm Đ, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Ông Phạm Văn V, sinh năm 1964; địa chỉ: Xóm Đ, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Ông Phạm Ngọc Q, sinh năm 1968; địa chỉ: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Người kháng cáo: Bà Trần Thị Y là nguyên đơn trong vụ án
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Y trình bày: Bà là mẹ của cháu Vũ Trần Việt H, sinh ngày 14 tháng 12 năm 2008. Ngày 15-7-2022, cháu H có bị ông Phạm Văn B, Phạm Văn V, Phạm Ngọc Q đánh đập và vu khống cho cháu cắt cầu giao điện làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình các ông. Sau khi cháu H bị đánh, gia đình bà đã đưa cháu đi điều trị tại bệnh viện huyện G từ ngày 16-7-2022 đến ngày 17-7-2022, ngày 18-7-2022 chuyển lên bệnh viện đa khoa tỉnh N, ngày 19-7-2022 chuyển lên bệnh viện V1 - Hà Nội để khám, chiếu, chụp và làm các xét nghiệm... sau đó chuyển cháu H về bệnh viện đa khoa tỉnh N điều trị từ ngày 19-7-2022 đến ngày 21-7-2022, ngày 22-7-2022 cháu được chuyển lên bệnh viện N khám, chiếu chụp..., vì lúc đó có dịch bệnh Covid19 nên bệnh viện cho cháu về nhà ngay ngày 22-7-2022. Sau khi về nhà cháu H lại đau nên gia đình đưa cháu đi bệnh viên Nhi Trung ương khám, điều trị (đi về trong ngày) vài ba lần nữa.
Chi phí cho cháu H như sau: Tiền thuê phương tiện đi lại: 20.000.000 đồng; tiền thuốc và các thiết bị y tế, chi phí chiếu chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, chụp cộng hưởng từ theo chỉ định của bác sĩ: 50.000.000 đồng; toàn bộ tiền viện phí: 3.000.000 đồng; tiền mua thuốc bổ, bồi dưỡng để phục hồi sức khỏe theo yêu cầu của bác sĩ: 2.000.000 đồng; chi phí ăn uống trong thời gian chữa bệnh: 6.000.000 đồng; bồi thường thu nhập cho người chăm sóc: 21.000.000 đồng; thuê nhà nghỉ cho 2 người chăm sóc: 2.000.000 đồng; bồi dưỡng lâu dài và cấp dưỡng: 10.000.000 đồng; bồi thường tổn thất tinh thần cho người bị hại: 10.000.000 đồng; bồi thường danh dự cho người bị hại: 20.000.000 đồng; tổng cộng 144.000.000 đồng. Nay bà yêu cầu ông Phạm Văn B, Phạm Văn V, Phạm Ngọc Q phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ số tiền trên.
* Bị đơn ông Phạm Văn B trình bày: Gia đình ông rất nhiều lần đã bị giật cầu dao điện dẫn đến mất điện toàn bộ. Ông phát hiện một nhóm trẻ con thường xuyên đi giật cầu dao của các gia đình, trong đó có gia đình nhà ông. Ngày 15-7-2022 ông phát hiện ra cháu H con bà Y ở trong khu vực cầu dao của gia đình bỏ chạy, ông đã đuổi theo và dùng tay tát cháu H. Trong lúc nóng giận, ông tát bao nhiêu cái thì ông không nhớ, khi sự việc xảy ra thì có ông Phạm Văn V và Phạm Ngọc Q đều là em trai của ông đến khu vực đê mà ông đang đánh cháu H, ông Q và ông V cùng vào tát cháu H. Mục đích các ông tát cháu để răn đe hành vi nghịch ngợm của các cháu để khỏi ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình. Nay bà Y yêu cầu buộc ông và ông Q, ông V liên đới bồi thường số tiền 144.000.000 đồng chi phí đi lại, chữa trị cho cháu H, quan điểm của ông là: Ông không đồng ý bồi thường số tiền 144.000.000 đồng, ông chỉ chấp nhận bồi thường số tiền viện phí có hóa đơn chứng từ cụ thể.
* Bị đơn ông Phạm Văn V và ông Phạm Ngọc Q trình bày: Các ông hoàn toàn nhất trí với nội dung trình bày và quan điểm của ông B, đề nghị bà Y cung cấp đầy đủ các chứng từ hóa đơn viện phí của cháu H, các ông sẽ nhận trách nhiệm thanh toán.
* Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã G cung cấp như sau: Việc xảy ra tại xóm Đ thường xuyên bị một nhóm trẻ con đi giật cầu giao điện của các hộ gần đường là có thật. Sự việc ông B, ông V, ông Q đánh cháu H là con bà Y, cơ sở xóm đã báo cáo. Vì bức xúc, không làm chủ được bản thân lên ông B, ông V, ông Q có đánh cháu H, còn diễn biến cháu H được gia đình đưa đi bệnh viện chữa chạy như thế nào địa phương cũng không nắm được. Nay bà Y làm đơn yêu cầu Tòa án buộc ông B, ông V, ông Q bồi thường số tiền đã đưa cháu H đi chữa trị, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngày công lao động phổ thông tại địa phương là 250.000 đồng/1 ngày.
* Bản án sơ thẩm số 29/2024/DS – ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 584, 585, 587, 590 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Y.
- Về án phí: Ông Phạm Ngọc Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 944.000 đồng (Chín trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).
Buộc ông Phạm Văn B, Phạm Văn V, Phạm Ngọc Q phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bà Trần Thị Y số tiền là: 56.642.454 đồng (Năm mươi sáu triệu, sáu trăm bốn mươi hai nghìn, bốn trăm năm mươi tư đồng).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
*Tại đơn kháng cáo ngày 19/9/2024 bà Trần Thị Y kháng cáo bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án phúc thẩm giải quyết: Ngoài số tiền bồi thường 56.642.454 đồng theo bản án sơ thẩm, buộc bị đơn bồi thường thêm số tiền thiệt hại về tinh thần 10.000.000 đồng, tiền thuê xe đi giám định 2 lần là 3.500.000 đồng, tiền chụp cộng hưởng từ là 4.000.000 đồng.
* Tại phiên toà các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Cụ thể là: Ông Phạm Văn B, Phạm Văn V, Phạm Ngọc Q bồi thường thêm cho bà Trần Thị Y số tiền 10.000.000 đồng. Tổng cộng tất cả các khoản tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe là 66.642.454 đồng (làm tròn 66.642.000 đồng).
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa có quan điểm:
- - Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về nội dung: Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên được công nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
- - Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị Y làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Trên cơ sở các hóa đơn chứng từ hợp lý, Tòa án sơ thẩm buộc các ông B, V, Q phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Trần Thị Y số tiền 56.642.454 đồng là có căn cứ. Các ông B, V, Q chấp nhận, không kháng cáo bản án sơ thẩm; bà Y kháng cáo yêu cầu các ông B, V, Q bồi thường thêm cho bà số tiền thiệt hại về tinh thần 10.000.000 đồng, tiền thuê xe đi giám định 2 lần là 3.500.000 đồng, tiền chụp cộng hưởng từ là 4.000.000 đồng.
Tại phiên tòa các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Cụ thể là: Ông Phạm Văn B, Phạm Văn V, Phạm Ngọc Q bồi thường thêm cho bà Trần Thị Y số tiền 10.000.000 đồng. Tổng số tiền ông B, ông V, ông Q bồi thường cho bà Y là 66.642.000 đồng. Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử công nhận.
Từ sự phân tích nhận định nêu trên, xét thấy cần sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
[3] Về án phí:
Bà Y không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm; ông B, ông V, ông Q phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật, tuy nhiên ông B, ông V là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS – ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy.
Căn cứ vào Điều 584, 585, 587, 590 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 147, 148, 300 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí:
Các ông Phạm Văn B, Phạm Văn V, Phạm Ngọc Q phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bà Trần Thị Y số tiền là: 66.642.000₫ (Sáu mươi sáu triệu, sáu trăm bốn mươi hai nghìn đồng), chia phần mỗi người là 22.214.000₫ (Hai mươi hai triệu, hai trăm mười bốn nghìn đồng).
Ông Phạm Ngọc Q phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 1.110.700đ (một triệu, một trăm mười nghìn, bẩy trăm đồng).
Bà Y không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm; ông B, ông V, ông Q được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi Hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
| Mai Anh Tuấn | Nguyễn Tiến Dũng |
| Bùi Văn Biền |
Bản án số 09/2024/DSPT ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe.
- Số bản án: 09/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khoẻ
