Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/DS-ST

Ngày: 13-9-2024

V/v: Tranh chấp

quyền sử dụng nhà, đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Lan

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Hồng Tuyên và bà Vũ Thị Thuý

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khuông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: huyện Thái Thụy: Bà Đặng Thị Xuân Mai - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 03/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc Tranh chấp quyền sử dụng nhà, đất theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-DS ngày 19/8/2024, quyết định hoãn phiên toà ngày số 11 /2024/DS-ST ngày 06/9/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Vũ Thị D, sinh năm 1973 – Có mặt
    • Quê quán: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
    • Địa chỉ: Số nhà C, ngách E, ngõ A, Đường P, Phường X, Quận B, TP Hà Nội.
  • - Bị đơn: Bà Trần Thị O, S năm 1950
    • Địa chỉ: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình;
    • (Vắng mặt có người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng)
  • Người đại diện theo uỷ quyền của và Trần Thị O là ông Nguyễn Quang Đ, sinh năm 1962; Địa chỉ: số A, Phan Đăng L, tổ A, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng. (Văn bản uỷ quyền lập ngày 13/6/2024) – Có mặt
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • + Anh: Khúc Ngọc T, sinh năm 1973 – Có mặt
      • Quê quán: thôn L, xã T, huyện T, Thái Bình;
      • Địa chỉ: Số nhà C, ngách E, ngõ A, Đường P, Phường X, Quận B, TP Hà Nội.
    • + Anh: Khúc Ngọc M, sinh năm 1992 – Là con đẻ của bà D và ông T
      • Địa chỉ: Số nhà C, ngách E, ngõ A, Đường P, Phường X, Quận B, TP Hà Nội – Vắng mặt không rõ lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, ý kiến tại phiên hoà giải và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn là chị Vũ Thị D trình bày:

Chị và anh Khúc Ngọc T kết hôn năm 1991, sau khi kết hôn ở cùng gia đình anh T đến năm 1993, chị và anh T san lấp ao thuộc đất 5% UBND xã phía trước nhà ở của bố mẹ anh T thuộc thửa đất số 457 thôn L, xã T xây dựng được căn nhà ở 3 gian mái bằng diện tích khoảng 40,8 m². Trong năm 1994 gia đình chị đã nộp tiền và được UBND huyện T giao đất theo Quyết định số 495 ngày 15/3/1995; diện tích đất ở được giao là 160m² thuộc thửa đất số 457, thôn L, xã T. Đông: dài 10m ; Tây: Dài 10m; Nam dài: 16m; Bắc dài; 16m. Năm 1995, vợ chồng chị xây thêm 2 gian nhà mái bằng khoảng 20,2 m² trên thửa đất đất này. Năm 1996 chị và anh T đi làm ăn tại Hà Nội nhưng vẫn thường xuyên đi về trong những ngày lễ, ngày giỗ, ngày tết. Bố mẹ anh T là bà Trần Thị O và ông Khúc Ngọc O1 ở tại thửa đất của ông bà cách nhà chị khoảng 50m cùng với em trai anh T là anh Khúc Ngọc D1. Năm 2014 đo diện tích thửa đất là 379.9m² gồm 160 m² đất ở còn lại là đất nông nghiệp quy đổi; Năm 2020 đo đạc lại và qua xem xét thẩm định của Toà án nay là thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11, diện tích 388,2 m² gồm 160 m² đất ở còn lại 228,2m² là đất trồng cây lâu năm. Từ khi sử dụng đất đến nay không tranh chấp với ai. Từ tháng 9/2022 sau khi ông Khúc Ngọc O1 qua đời, thì giữa chị và bà Trần Thị O tranh chấp căng thẳng do bà O cho rằng nhà đất tại thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11 là nhà đất thuộc quyền sử dụng của bà; bà O không cho chị vào nhà, thay khóa cổng, khoá cửa cản trở quyền sử dụng nhà, đất hợp pháp của chị. Bà O còn gửi đơn cho Ủy ban nhân dân T1 về việc chị xâm phạm chỗ ở của bà O. Do không hoà giải được chị phải khởi kiện. Chị đã yêu cầu khởi kiện buộc bà O trả lại quyền sử dụng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11, diện tích 388,2 m² trên thửa đất có 01 nhà mái bằng diện tích khoảng 48,8m², 01 nhà mái bằng và công trình phụ khoảng 20,2 m²; buộc bà Trần Thị O phải di rời không được quyền sử dụng nhà đất nói trên. Nay bà O đã thừa nhận nhà đất thuộc quyền sử dụng của chị và anh T thì chị yêu cầu buộc bà O phải di rời không cản trở quyền sử dụng đất của chị.

* Người đại diện theo uỷ quyền của bà Trần Thị O là ông Nguyễn Quang Đ trình bày ý kiến như sau:

Nguồn gốc thửa đất số 16 tờ bản đồ số 11 thôn L, xã T, huyện T, Thái Bình là đất ao thuộc quyền quản lý quỹ đất 5% của xã T. Năm 1992 vợ chồng bà O cùng các con thuê người chở đất lấp một phần ao, lúc này anh T, chị D vẫn đang ở nhà bà. Năm 1993 vợ chồng bà cùng anh T, chị D xây nhà ở 3 gian mái bằng diện tích khoảng 48,8 m² cho anh T, chị D ra ở riêng tại thửa đất này; Năm UBND huyện T có quyết định giao đất cho anh K Ngọc Trìu theo Quyết định số 495 ngày 15/3/1995 với diện tích đất ở là 160m² trên thửa đất 475 thôn L, xã T. Năm 1995, vợ chồng anh T tiếp tục xây 2 gian nhà mái bằng công trình phụ khoảng 20 m² cùng sân, cổng trên mảnh đất này, sau đó do điều kiện công việc chị D và anh T cùng các con chuyển ra Hà Nội sinh sống thì chồng bà là ông Khúc Ngọc O1 chuyển ra ở trông coi vào buổi tối cho vợ chồng anh T, chị D. Đến năm 2022 vợ chồng ông, bà chuyển quyền sử dụng thửa đất cho anh D1 là em trai anh T. Tháng 9/2022 ông Khúc Ngọc O1 chết, bà ra ở tại nhà đất của anh T, chị D ở để quản lý trông coi nhà cửa cho anh T, chị D. Bà xác định toàn bộ tài sản chị D đang có yêu cầu giải quyết là quyền sử dụng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11, diện tích 388,2 m² trên thửa đất có 01 nhà mái bằng diện tích khoảng 48,8m², 01 nhà mái bằng và công trình phụ khoảng 20,2 m² và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất thuộc quyền sử dụng của chị D và anh T chứ không phải của vợ chồng bà. Việc vợ chồng ông, bà ra ở tại nhà đất của anh T, chị D trong lúc anh T, chị D đi vắng là trách nhiệm của người làm cha mẹ. Chị D không đồng ý nhưng đã được anh T đồng ý cho bà ở đây nên bà có quyền sử dụng nhà đất. Hơn nữa anh T là con trưởng có trách nhiệm chăm sóc cha mẹ theo đạo đức truyền thống là cũng phù hợp với Luật hôn nhân và gia đình, hiện nay bà không còn chỗ ở nào khác nên bà không đồng ý di rời đến nơi ở khác.

* Anh Khúc Ngọc T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 16 tờ bản đồ số 11 thôn L, xã T, huyện T, Thái Bình và tài sản trên đất như lời trình bày của bà O1. Năm 1994 gia đình anh nộp tiền và được Chủ tịch UBND huyện có quyết định giao đất cho anh theo Quyết định số 495 ngày 15/3/1995 với diện tích đất ở là 160m² tại thửa đất 457. Năm 1996, do điều kiện công việc vợ chồng anh cùng các con chuyển ra Hà Nội sinh sống thì bố anh ông Khúc Ngọc O1 chuyển ra ở trông coi nhà đất. Đến năm 2022 bố mẹ anh chuyển quyền sử dụng thửa đất của ông, bà cho em trai là Khúc Ngọc D1, sau đó bố anh chết vào tháng 9/2022 mẹ anh ra ở tại nhà đất của anh và chị D ở để quản lý trông coi nhà cửa cho anh, chị. Việc mẹ anh ở đây là được sự đồng ý của anh và anh xác định cho đến thời điểm hiện nay thửa đất số 16 tờ bản đồ số 11 thôn L, xã T, huyện T, Thái Bình vẫn là tài sản chung của vợ chồng anh và chị D chưa có thoả thuận nào khác về tài sản; không có tranh chấp gì, bà Trần Thị O không tranh chấp, không cản trở quyền sử dụng nhà đất của anh và chị D, anh vẫn đồng ý để mẹ anh ở tại nhà đất này.

- Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/3/2024 thể hiện: Thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11 thôn L, xã T có diện tích là 388,2 m², trong đó diện tích đất ở là 160m², diện tích đất trồng cây lâu năm là 228,2m². Diện tích đất nông nghiệp giao cho hộ anh Khúc Ngọc T gồm chị D, anh T và anh Khúc Ngọc M, có các cạnh như sau: Phía Đông dài 19,71m; Phía Tây 7,51m + 13,48m; Phía Nam dài 19m; Phía Bắc dài 3,67m + 0,85m + 14,47m

Tài sản trên thửa gồm: 01 nhà cấp 4 mái bằng hai gian thụt, một gian thò đổ bê tông, diện tích 48, 8m²; Sân nền bê tông gạch đỏ (trước nhà), diện tích sân 27m²; 01 tường bao phía Bắc giáp đường thôn; 01 cổng chính khung sắt lưới B40;01 cổng phụ làm năm 1993 khung sắt, lợp lưới B40 rộng một cánh 90cm x 180cm; 01 bể nước xây gạch; 02 mái tôn xung quanh nhà lợp tôn thường; Công trình phụ cấp 4 gồm lợp mái bằng, đổ bê tông, xây tường 20,8 m² vôi vữa và có vườn tạp trồng các loại cây; 01 nhà vệ sinh cũ và 01 chuồng lợn.

- Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T1 và tài liệu chứng cứ do Ủy ban nhân dân xã T1 cung cấp có nội dung: Anh T, chị D đăng ký kết hôn vào ngày 06/11/1991 tại UBND xã T1, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn chung sống tại thôn L, xã T, sinh được 2 con con lớn là Khúc Ngọc M, sinh năm 1992 (khai sinh tại xã T nhập khẩu), con thứ hai Khúc Ngọc Gia K1, sinh năm 2008 (không khai sinh tại xã T). Anh, chị có thời gian chung sống cùng bố mẹ anh T, đến năm 1993 ra thửa đất 475 lập thổ trên nền đất của ao thuộc thửa đất số 457 thuộc đất 5% của UBND xã quản lý để sinh sống, xây nhà trên đất này. Theo Quyết định số 495 ngày 15/3/1995 của Ủy ban nhân dân huyện T đã giao cho cho anh K Ngọc Trìu một phần đất ao, với diện tích đất là 160m² tại thửa 457 để làm nhà ở. Năm 2003 chia ruộng cho gia đình anh T gồm: anh T, chị D và con trai anh chị là Khúc Ngọc M. Đất nông nghiệp của hộ anh T ở ngoài cánh đồng là 1396m²; tại thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11 có diện tích là 388,2 m², trong đó diện tích đất ở là 160m², diện tích đất trồng cây lâu năm quy đổi vào trong thửa đất là 228,2m². Bà Trần Thị O và chị Vũ Thị D có tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng nhà, đất tại thửa đất số 16, tờ bản đồ địa chính số 11 thôn L, xã T từ năm 2022. Bà O đã gửi đơn có ý kiến về việc chị D xâm phạm chỗ ở của bà. Quá trình hoà giải tại Ủy ban nhân dân xã B O đều có ý kiến cho rằng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11 có diện tích là 388,2 m², trong đó diện tích đất ở là 160m², diện tích đất trồng cây lâu năm là 228,2m² thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà chứ không phải của chị D và anh T; Bà O có cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất của chị D.

Do không hoà giải được nên phải đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đều đúng pháp luật. Kiểm sát viên đề nghị, căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 25, 26 Luật đất đai 2024; các Điều 163, 166, 169, 186, 189, 190, 192, 213, 218 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 3, Điều 10 Luật Nhà ở; Điều 12; điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị Hội đồng xét xử xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị D về việc kiện đòi tài sản chung của vợ chồng đang bị chiếm hữu, sử dụng: Buộc bà Trần Thị O phải di dời không được sử dụng nhà và đất tại thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11 thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình để chị D thực hiện quyền của người sử dụng. Buộc bà Trần Thị O phải chịu lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản là 8.000.000 đồng. Do chị D đã nộp lệ phí xem xét thẩm định nên buộc bà O phải trả cho chị D 8.000.000 đồng. Do bà O là người cao tuổi nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà O.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Vụ án này là vụ án án dân sự Tranh chấp quyền sử dụng nhà, đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 9 Điều 26; điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Xét yêu cầu của nguyên đơn:
    1. Mặc dù vợ chồng chị D, anh T chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng Quyết định số 495 ngày 15/03/1995 của Ủy ban nhân dân huyện T giao cho anh K Ngọc Trìu có quyền sử dụng 160m² đất tại thửa đất 457 thôn L, xã T để làm nhà ở; quá trình sử dụng gia đình chị D, anh T được chuyển đổi 228,2m² đất nông nghiệp vào thửa đất này; nay là thửa đất số 16, tờ bản đồ địa chính số 11 diện tích là 388,2 m². Bà O cũng xác định tài sản nhà đất tại thửa đất số 16, tờ bản đồ địa chính số 11 thuộc quyền sử dụng của chị D, anh T – là chứng cứ không phải chứng minh. Chị D và anh T là vợ, chồng hợp pháp; tài sản nhà, đất tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân của anh, chị là tài sản chung. Do đó chị D có quyền bảo vệ quyền sử dụng đất và quyền tài sản theo quy định tại Điều 25, Điều 26 Luật đất đai 2024; Điều 3, Điều 10 Luật Nhà ở và Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình.
    2. Tài sản nhà đất đang tranh chấp tại thửa đất số 16, tờ bản đồ địa chính số 11 tài sản chung hợp nhất của chị D và anh T cho nên việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản phải có sự thống nhất của vợ chồng anh chị. Anh T đồng ý để cho bà O quản lý, sử dụng tài sản nhà đất nhưng chị D không đồng ý là vi phạm quy định về việc sử dụng tài sản chung của vợ chồng tại Điều 33 Luật hôn nhân và Gia đình. Anh T và chị D đều xác định quan hệ vợ chồng giữa hai bên đã mâu thuẫn nhiều năm, nhưng vẫn duy trì quan hệ hôn nhân; Giữa chị D và gia đình anh T cũng mâu thuẫn đặc biệt từ năm 2022, xuất phát từ việc chị D về quê nhưng bà O không cho chị vào nhà, khi chị tự mở cổng vào thì bà O có đơn gửi Uỷ ban xã T về việc chị D xâm phạm nơi ở của bà. Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T1 cũng phù hợp với lời khai của chị D về việc bà O có cản trở quyền sử dụng đất của chị D. Trong điều kiện, hoàn cảnh giữa các bên có nhiều mâu thuẫn, chị D yêu cầu bà O không được quyền sử dụng nhà đất, di rời đảm bảo quyền sử dụng tài sản nhà đất cho chị là phù hợp với các điều 25, 26 Luật đất đai; Điều 163, điều 166, 169; 186, 189, 192; 210, 213, 218 Bộ luật dân sự; Điều 3 ; Điều 10 Luật nhà ở và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh hiện nay của gia đình bà O và anh T, chị D. Vì vậy chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D. Buộc bà Trần Thị O phải di rời không được quyền sử dụng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11 có diện tích là 388,2 m², trong đó diện tích đất ở là 160m², diện tích đất trồng cây lâu năm là 228,2m² trên thửa đất có 01 nhà cấp 4 mái bằng đổ bê tông, diện tích 48, 8m²; Sân, cổng, tường bao, bẻ nước, công trình phụ cấp 4 và các công trình xây dựng khác để chị D thực hiện quyền sử dụng.
  3. Xét điều kiện hiện nay bà O là người cao tuổi, theo lời khai của bà O thì nhà đất của vợ chồng bà đã cho con trai là anh Khúc Ngọc D1. Nên để bà O có thời gian sắp xếp nơi ở cần áp dụng khoản 1 Điều 6 Bộ luật dân sự năm 2015 áp dụng tương tự pháp luật (tương tự như Điều 63 Luật hôn nhân và Gia đình) cho bà O được hưởng quyền lưu cư trong thời gian 6 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Hết thời gian lưu cư buộc bà O phải thi hành việc di rời không được quyền sử dụng nhà và các công trình của anh T, chị D xây dựng trên thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11 thôn L, xã T.
  4. Trong vụ án này anh Khúc Ngọc T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến về việc anh đồng ý để bà O sử dụng nhà đất của vợ chồng anh nhưng không cung cấp được chứng cứ xác nhận tài sản riêng hay các thoả thuận khác về tài sản mà anh có quyền tự định đoạt mà không cần sự nhất trí của chị D; anh có quyền khởi kiện về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và có quyền sử dụng, định đoạt phần tài sản của mình sau khi được phân chia.
  5. Về chi phí xem xét thẩm định: Số tiền xem xét thẩm định là 8.000.000 đồng. Do yêu cầu của chị D được Tòa án chấp nhận nên áp dụng các Điều 155, 156, 157 Bộ luật tố tụng dân sự: Bà Trần Thị O có nghĩa vụ chịu lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ tài sản. Do chị đã nộp tạm ứng lệ phí xem xét thẩm định là 8.000.000 đồng nên bà O phải thanh toán cho chị D số tiền 8.000.000 đồng.
  6. Về án phí: Do yêu cầu của chị D được chấp nhận nên căn cứ vào Điều 146, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bà Trần Thị O là người cao tuổi nên miễn án phí cho bà Trần Thị O. Trả lại tạm ứng án phí đã nộp cho chị Vũ Thị D.
  7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 147; Điều 165; Điều 156, Điều 157; Điêu 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 25, 26 Luật đất đai; Các điều 6; 163, 166, 169; 186, 189, 192; 210, 213, 218 Bộ luật dân sự; Điều 3 ; Điều 10 Luật nhà ở; Điều 29, 31, 33, 35 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị D, buộc bà Trần Thị O phải di rời không được quyền sử dụng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 11 có diện tích là 388,2 m², trong đó diện tích đất ở là 160m2, diện tích đất trồng cây lâu năm là 228,2m², nhà ở và các công trình xây dựng là tài sản của anh T, chị D trên thửa đất. Bà Trần Thị O được quyền lưu cư trong thời gian 6 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Hết thời gian lưu cư buộc bà O phải thi hành việc di rời.
  2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc bà Trần Thị O phải chịu lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ là 8.000.000 đồng. Chị Vũ Thị D đã nộp tạm ứng lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ là 8.000.000 đồng nên bà Trần Thị O phải trả cho chị Vũ Thị D 8.000.000 đồng.
  3. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị O. Trả lại cho chị Vũ Thị D 3.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004081 ngày 21/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thuỵ.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
  5. Quyền yêu cầu thi hành án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 9 Luật thi hành án dân sự; điều 7 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thái Thuy;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình
  • - Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy
  • - Lưu hồ sơ

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Hương Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/DS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng nhà, đất

  • Số bản án: 09/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng nhà, đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa chị D và bà O
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger