|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Phương Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kim Hoa và ông Nguyễn Minh Duyết.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thông -Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ An - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 21/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:10/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2024/QÐST-DS ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B.
Địa chỉ trụ sở chính: LPBank Tower, số B đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ nhận thông báo: Số G Quốc lộ I, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Nam T - Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Công H - Phó Giám đốc phòng G, tỉnh Quảng Trị. (Theo quyết định số 189/2024/QĐ- LPBQTR ngày 06/5/2024 của Giám đốc chi nhánh Ngân hàng TMCP B, về việc ủy quyền tham gia tố tụng tại Toà án).
Bị đơn: Ông Lê Vũ Q, sinh năm 1985.
Địa chỉ thường trú: Khu phố E, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 06/5/2024 nguyên đơn trình bày:
Ngày 27/3/2017, Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Q1 ký Hợp đồng tín dụng số 653/2017/2017/HĐTD.460 với ông Lê Vũ Q, số tiền cấp tín dụng là 50.000.000 đồng. Dư nợ gốc tính đến 30/4/2024 là 11.080.000 đồng. Thời hạn vay: 36 tháng, lãi suất: 9%/năm, phương thức áp dụng lãi suất: Lãi suất cố định được tính trên tổng dư nợ gốc ban đầu. Lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. (Cụ thể: Lãi suất quá hạn là 13,5%/năm), lãi suất nợ lãi quá hạn là 10%/năm. Mục đích vay: Phục vụ đời sống. Do không trả được nợ đến hạn nên khoản vay của ông Lê Vũ Q bị chuyển nợ quá hạn ngày 04/01/2019. Kể từ ngày 26/8/2019 cho đến hiện tại, ông Lê Vũ Q không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng. Tính đến ngày 30/4/2024, tổng dư nợ của ông Lê Vũ Q tại Ngân hàng TMCP B là: 22.648.516 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 11.080.000 đồng, nợ lãi: 3.075.000 đồng, nợ lãi quá hạn: 8.493.516 đồng.
Nay Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu Tòa xem xét và giải quyết các yêu cầu sau:
1. Buộc ông Lê Vũ Q phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngay cho Ngân hàng TMCP B theo Hợp đồng tín dụng số 653/2017/2017/HĐTD.460 ký ngày 27/3/2017 với tổng số tiền tính đến ngày 30/04/2024 là: 22.648.516 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 11.080.000 đồng, nợ lãi: 3.075.000 đồng, nợ lãi quá hạn: 8.493.516 đồng.
Đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi đến ngày xét xử theo Hợp đồng tín dụng số 653/2017/2017/HĐTD.460 ký ngày 27/03/2017 giữa Ngân hàng TMCP B với ông Lê Vũ Q.
2. Trong thời gian chưa thanh toán nợ, ông Lê Vũ Q phải chịu lãi suất quá hạn theo Hợp đồng tín dụng số 653/2017/2017/HĐTD.460 ký ngày 27/3/2017 với Ngân hàng TMCP B cho đến khi tất toán khoản vay.
Tại bản trình bày ý kiến ngày 11/9/2024 và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Bùi Công H trình bày:
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng số 653/2017/2017/HĐTD.460 ngày 27/03/2017, ông Lê Vũ Q đã trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền gốc là 38.920.000 đồng và tiền lãi là 10.625.000 đồng. Lần cuối cùng ông Lê Vũ Q trả nợ gốc và lãi là vào ngày 23/10/2019 với số tiền là 1.800.000 đồng (thu nợ cho kỳ ngày 25/7/2019). Từ đó đến thời điểm khởi kiện mặc dù đã quá thời hạn trả gốc, lãi theo thỏa thuận nhưng phía ông Lê Vũ Q vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình. Do không trả được nợ đến hạn nên khoản vay của ông Lê Vũ Q đã bị chuyển sang nợ quá hạn là ngày 04/01/2019.
Tính đến ngày 11/9/2024, ông Lê Vũ Q còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền là: 23.007.663 đồng. Trong đó: Nợ tiền gốc là 11.080.000 đồng; nợ lãi là 11.927.663 đồng (lãi trong hạn: 3.075.000 đồng, lãi quá hạn: 8.852.663 đồng).
Nay Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Vũ Q phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngay cho Ngân hàng TMCP B theo Hợp đồng tín dụng số 653/2017/2017/HĐTD.460 ký ngày 27/3/2017 với tổng số tiền tính đến ngày 11/9/2024 là 23.007.663 đồng. Trong đó: Nợ tiền gốc là 11.080.000 đồng; nợ lãi là 11.927.663 đồng (lãi trong hạn: 3.075.000 đồng, lãi quá hạn: 8.852.663 đồng) và kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử ông Lê Vũ Q phải chịu lãi suất quá hạn trên tổng số tiền còn phải thanh toán theo hợp đồng cho đến khi hoàn tất khoản vay.
Phía bị đơn ông Lê Vũ Q trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần B.
Buộc ông Lê Vũ Q phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền là 23.007.663 đồng (Trong đó: Tiền gốc là 11.080.000 đồng; tiền lãi trong hạn 3.075.000 đồng, tiền lãi quá hạn 8.852.663 đồng).
Buộc bị đơn ông Lê Vũ Q chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Ngân hàng thương mại cổ phần B1 khởi kiện yêu cầu ông Lê Vũ Q; trú tại khu phố E, phường C, thị xã Q trả nợ khoản tiền vay, đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị (Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự).
[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các đương sự theo quy định của pháp luật, nhưng phía bị đơn vắng mặt không đến nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất nên Tòa án hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa lần thứ hai bị đơn ông Lê Vũ Q vắng mặt không có lý do; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Nội dung hợp đồng: Hợp đồng tín dụng số 653/2017/2017/HĐTD.460 ngày 27/3/2017 đã được ký kết giữa Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Q1 với ông Lê Vũ Q là hợp pháp. Vì thoả mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định về giao dịch dân sự nói chung cũng như các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tín dụng theo quy định của luật các tổ chức tín dụng nên có giá trị các bên tham gia giao dịch thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:
Về khoản nợ gốc: Theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng số 653/2017/2017/HĐTD.460 ngày 27/3/2017, ông Lê Vũ Q vay 50.000.000 đồng, thì phải trả nợ gốc và tiền lãi định kỳ vào ngày 25 hàng tháng. Do vi phạm về mặt thời gian trả nợ nên khoản nợ chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 04/01/2019.Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Vũ Q đã trả nợ gốc được 38.920.000 đồng. Tính đến 11/9/2024 dư nợ gốc ông Q còn phải trả cho ngân hàng TMCP B là: 11.080.000 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của N hàngTMCP Bưu Điện B về việc đòi nợ gốc là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận (Căn cứ Điều 463 của Bộ luật dân sự).
Về khoản nợ lãi: Hợp đồng tín dụng số 653/2017/2017/HĐTD.460 ngày 27/3/2017 đã được ký kết giữa Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Q1 với ông Lê Vũ Q thì thoả thuận lãi suất cho vay 9%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Sau thời điểm chuyển nợ quá hạn ngày 04/01/2019, trả lãi chậm bên vay phải chịu tiền phạt (Số tiền lãi chậm trả x Lãi suất phạt quá hạn x số ngày chậm trả)/360); Lãi trả định kỳ vào ngày 25 hàng tháng theo dư nợ gốc ban đầu. Tính đến ngày 25/7/2019, ông Lê Vũ Q đã trả tiền lãi được là 10.625.000 đồng. Do bị đơn không trả nợ đến hạn, ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 04/01/2019. Tính đến ngày 11/9/2024, tổng số tiền nợ lãi của bị đơn là 11.927.663 đồng; trong đó lãi trong hạn 3.075.000 đồng và lãi quá hạn 8.852.663 đồng. Xét hợp đồng tín dụng được xác lập và thỏa thuận mức lãi suất trong hạn, quá hạn, lãi suất chậm trả trên cơ sở tự nguyện của hai bên, phù hợp với quy định tại Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tính tiền lãi tính từ ngày 25/7/2019 cho đến ngày xét xử 11/9/2024 là 11.927.663 đồng là có cơ sở.
Như vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông Lê Vũ Q phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP B theo Hợp đồng tín dụng số 653/2017/2017/HĐTD.460 ký ngày 27/3/2017 với tổng số tiền là 23.007.663 đồng. Trong đó: Nợ tiền gốc là 11.080.000 đồng; nợ tiền lãi là 11.927.663 đồng (lãi trong hạn: 3.075.000 đồng, lãi quá hạn: 8.852.663 đồng).
[5] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B.
Buộc ông Lê Vũ Q phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền 23.007.663 đồng. Trong đó: Nợ tiền gốc là 11.080.000 đồng; nợ tiền lãi là 11.927.663 đồng (lãi trong hạn: 3.075.000 đồng, lãi quá hạn: 8.852.663 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 11/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án ông Lê Vũ Q còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số 653/2017/2017/HĐTD.460 ký ngày 27/03/2017.
-
Về án phí: Buộc bị đơn ông Lê Vũ Q phải chịu 1.150.383 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 566.213 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000070 ngày 07/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Phương Tiến |
Bản án số 09/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 09/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
