Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 09/2024/DS-PT

Ngày: 11/12/2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình.

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn; Ông Đỗ Thế Bình.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/2024/TLPT - DS, ngày 30/10/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DSST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Đào Hữu H, sinh năm 1948; Địa chỉ: Số nhà C H, thị trấn Y, huyện G, thành phố Hà Nội (có mặt).
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Vũ Trọng Quốc H1 - Luật sư, Văn phòng L3 và Cộng sự, Đoàn luật sư thành phố H (có mặt)
  • - Bị đơn: Ông Đào Hữu M, sinh năm 1967; Địa chỉ: Thôn T, xã M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. UBND thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
    2. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Văn T – Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
    3. Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1955; Địa chỉ: SN C H, thị trấn Y, huyện G, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
    4. Chị Đào Thị T1, sinh năm 1976; Địa chỉ: F, tổ A phường V, quận H, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
    5. Chị Đào Thị N, sinh năm 1978; Địa chỉ: A, ngách I, K, phường K, quận B, Hà Nội (vắng mặt).
    6. Chị Đào Thị H2, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ C, phường H, quận H, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
    7. Chị Đào Thị L, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số nhà C H, thị trấn Y, huyện G, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
    8. Chị Đào Thị H3, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số I, H, thị trấn Y, huyện G, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà M1, chị T1, chị N, chị H2, chị L và chị H3: Ông Đào Hữu H, sinh năm 1948 (có mặt).
    1. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1972 (vắng mặt).
    2. Anh Đào Hữu T3, sinh năm 1992 (vắng mặt).
    3. Anh Đào Xuân L1, sinh năm 1995 (vắng mặt).
  • Cùng địa chỉ: Thôn T, xã M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà T2, anh T3 và anh L1: Ông Đào Hữu M, sinh năm 1967 (có mặt).
  • Người kháng cáo: Ông Đào Hữu M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là ông Đào Hữu H trình bày: Ông và ông Đào Hữu M có quan hệ họ hàng, bố ông M và ông là anh em con chú con bác ruột. Khi ông lấy vợ, bố mẹ ông đã cho vợ chồng ông 01 thửa đất ở có diện tích 01 sào, cạnh đất ở có 01 ao do địa phương quản lý. Đến năm 1988, gia đình ông được địa phương và Ban Q cấp đổi diện tích đất 10% của gia đình là 228m² (trong tổng số 720m² đất 10% của gia đình) để lấy diện tích đất ao.

Theo quy định tại thời điểm đó thì 1m² đất 10% phải trừ sẽ đổi được 2,5m² đất ao. Như vậy, ao của gia đình ông có diện tích là 228m² x 2,5m² = 560m². Sau khi được đối trừ đất 10% thì diện tích đất ruộng còn lại của gia đình ông là 492m² (diện tích đất ruộng này vợ chồng ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ). Gia đình ông sử dụng thửa đất ao này được khoảng 10 năm. Năm 1998, gia đình ông chuyển ra Hà Nội sinh sống nên ông đã giao cho bố ông M là ông Đào Hữu X trông nom và quản lý tài sản giúp. Thời gian sau, ông M có nhu cầu mua lại đất ở của ông và ông đã đồng ý bán cho ông M ½ thửa đất ở (tức 180m²) với số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Giao dịch mua bán hai bên chỉ thỏa thuận miệng và không lập văn bản.

Do gia đình ông không có ai ở nhà nên ngoài diện tích ông M mua của ông thì ông M đã sử dụng và trông nom giúp gia đình ông diện tích đất còn lại.

Thời điểm địa phương có chủ trương kê khai để cấp GCNQSDĐ ông không có ở nhà nên không biết.

Năm 2022, ông phát hiện ông M xây nhà trên phần diện tích đất ao thì ông mới biết ông M đã sử dụng cả phần đất của ông và đã tự ý kê khai để UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Đào Hữu M. Sau khi nói chuyện tình cảm không thành thì ông đã làm đơn lên UBND xã M để nghị giải quyết.

Tại buổi hòa giải tại UBND xã M, ông M trình bày mua đất ở của ông còn đất ao ông M mua của địa phương từ năm 2002 với số tiền là 1.450.000đ và có biên lai thu.

Đối với phần diện tích đất ở: Năm 1998, ông bán cho ông M là 180m² nhưng khi thực hiện giao kết, hai bên không lập văn bản mà chỉ thỏa thuận miệng nên quá trình sử dụng đất ông M đã sử dụng toàn bộ thửa đất ở của ông và đã được cấp GCNQSDĐ. Diện tích đất ở hiện nay ông M đã sử dụng toàn bộ nên ông không có tranh chấp.

Đối với diện tích đất ao: Thửa đất ao gia đình ông đã được đối trừ đất 10% ngoài đồng nên mới được địa phương giao và ông chưa có thỏa thuận bán thửa đất ao này cho ông M. Nay ông M đã kê khai và được cấp GCNQSDĐ ở thửa đất này. Nhận thấy quyền lợi của ông và gia đình đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Do đó, ông làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết thu hồi và hủy GCNQSDĐ cấp cho hộ ông M năm 2000 và buộc ông M phải trả lại ông quyền sử dụng đất tại thửa đất ao có diện tích là 560m² và tháo dỡ công trình xây dựng trên phần diện tích đất này.

Về chi phí tố tụng và án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị đơn là ông Đào Hữu M trình bày: Toàn bộ thửa đất gia đình ông đang sử dụng có nguồn gốc là mua của ông Đào Hữu H và bà Nguyễn Thị M1 vào năm 1998 với giá 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Thửa đất này có vị trí như sau:

  • Phía Bắc giáp đất nhà ông S và nhà H4;
  • Phía Đông giáp đường giao thông của thôn;
  • Phía Tây giáp đường giao thông của thôn;
  • Phía Nam giáp đường giao thông của thôn.

Hiện trạng thửa đất khi ông mua của ông H, bà M1 được thể hiện trên là đất ở, phía dưới là mặt nước ao. Trên phần đất ở đã có 01 ngôi nhà ngói 03 gian, 01 gian nhà trần đã cũ, không có khu công trình phụ. Khi mua bán đất cho nhau hai bên mua và bán theo hiện trạng còn không đo cụ thể diện tích. Hai bên đã hoàn thành việc thanh toán và giao đất vào năm 1998. Cùng năm đó, vợ chồng, con cái ông chuyển ra thửa đất này để ở và xây thêm công trình phụ. Khi chuyển sang ở, vợ chồng ông có làm cơm liên hoan và ông H có về tham dự. Phần đất liền ông sử dụng để ở và chăn nuôi còn đất ao thì ông thả cá.

Năm 2000, theo chính sách của nhà nước, địa phương đã tiến hành đo đạc sơ bộ và hướng dẫn các chủ sử dụng đất căn cứ vào diện tích đã được đo đạc để kê khai, làm hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất. Ngày 24/11/2000, UBND huyện Q đã cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Đào Hữu M với diện tích 844m² với mục đích sử dụng làm đất ở; Thời hạn sử dụng: Lâu dài.

Năm 2004, theo yêu cầu của địa phương, ông chấp hành đóng tiền thuế đất ở thừa với diện tích là 299m².

Gia đình ông đã sử dụng toàn bộ diện tích đất này ổn định và không hề phát sinh tranh chấp. Hàng năm, ông H, bà M1 về địa phương nhiều lần nhưng không bao giờ nói với vợ chồng ông những vấn đề liên quan đến đất đai mà ông H, bà M1 đã bán cho ông.

Năm 2011, địa phương hướng dẫn chủ sử dụng đất chuyển sổ đỏ sang sổ hồng và lấy số đo theo bản đồ địa chính năm 2001. Gia đình ông cũng đã làm thủ tục và được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ với diện tích là 862.6m².

Năm 2022, khi các con ông đã trưởng thành, gia đình ông đã thống nhất tách đất cho các con. Cụ thể gia đình ông tách thửa đất 366, tờ bản đồ số 13 diện tích 862.6m² làm 03 thửa:

  • - Thửa 480, tờ bản đồ số 13, diện tích 95.5m² là vợ chồng ông đứng tên;
  • - Thửa đất số 481, tờ bản đồ số 13, diện tích 347.5m² tặng cho con trai là Đào Xuân L1, sinh năm 1995.
  • - Thửa đất số 479, tờ bản đồ số 13, diện tích 419.6m² tặng cho con trai là Đào Hữu T3, sinh năm 1992.

Hiện tại trên 03 thửa đất này đều đã có công trình xây dựng trên đất. Thời gian xây dựng từ 2009 đến 2021. Trong quá trình xây dựng nhà trên đất thì ông H cũng về địa phương nhiều lần, biết được việc ông xây nhà nhưng chưa bao giờ ông H có ý kiến liên quan đến việc đó.

Như vậy, gia đình ông đã mua và sử dụng thửa đất này hợp pháp từ năm 1998 cho đến nay. Năm 2022, ông H làm đơn ra UBND xã M để nghị giải quyết tranh chấp đất đai. Việc làm này của ông H không đúng với pháp lý và đạo đức vì ông H, bà M1 đã bán đất cho ông, đã nhận tiền của ông. Sau 25 năm gia đình ông sử dụng đất ổn định, được cơ quan có thẩm quyền xác nhận và cấp GCNQSDĐ thì ông H, bà M1 lại khởi kiện đề nghị ông trả lại diện tích đất ao.

Ông xác định lại ông chỉ mua đất với ông H và bà M1 chứ ông không mượn một phần đất nào của ông H và bà M1. Khi mua bán có giấy tờ ký kết rõ ràng. Sau 02 năm hoàn thành việc mua bán với nhau, địa phương có chính sách làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, đã thông báo trên đài của địa phương về việc giao nộp giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất. Ông cũng đã nộp cho chính quyền giấy tờ mua bán đất để họ lập hồ sơ, xác nhận và cấp GCNQSDĐ cho ông.

Từ cơ sở trên, ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông H. Ông đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về án phí và chi phí tố tụng: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bà Nguyễn Thị M1 trình bày: Khi bà kết hôn với ông Đào Hữu H vào năm 1974, bố mẹ chồng cho vợ chồng bà ra ở riêng, đồng thời giao cho vợ chồng bà 01 thửa đất có diện tích 01 sào. Phía trước thửa đất ở của vợ chồng bà có 01 cái ao do tập thể quản lý.

Năm 1988, theo chính sách của địa phương là được quy đổi ruộng chân rau lấy đất ao thì bà đã xin với địa phương cho đổi đất phần trăm ngoài đồng và được địa phương đồng ý.

Như vậy, vợ chồng bà được sử dụng và quản lý phần diện tích đất ao này từ năm 1988. Đến năm 1996, gia đình bà chuyển ra Hà Nội sinh sống nên toàn bộ nhà đất của vợ chồng bà đã giao lại cho ông Đào Hữu M (ông M gọi chồng bà là chú) ra trông nom giúp. Đến năm 1998, vợ chồng bà và ông M thống nhất việc chuyển nhượng đất, cụ thể vợ chồng bà đồng ý bán cho ông M ½ diện tích đất ở, phần đất còn lại thì nhờ ông M trông nom giúp, khi nào vợ chồng bà về thì có trách nhiệm trả lại vợ chồng bà.

Việc chuyển nhượng đất ở và việc nhờ trông nom đất đai thì hai bên chỉ thống nhất và thỏa thuận miệng với nhau chứ không lập thành văn bản. Số tiền bán ½ thửa đất ở cho ông M, vợ chồng bà đã nhận đủ và không có tranh chấp về vấn đề này. Sau khi nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng bà thì vợ chồng ông M đã chuyển ra ở trên thửa đất này luôn. Do tin tưởng ông M là cháu nên trong suốt thời gian ông M sử dụng đất vợ chồng bà do chưa có nhu cầu lấy lại nên vẫn để ông M chủ động trông nom, sử dụng. Hai bên không có phát sinh tranh chấp gì.

Đến năm 2022, khi vợ chồng bà về quê, biết ông M xây nhà trên phần đất ao. Khi tìm hiểu mới biết từ năm 2000, ông M đã kê khai và được cấp GCNQSDĐ đối với toàn bộ thửa đất (bao gồm cả thửa đất ao). Sau đó, ông bà làm đơn và được chính quyền xã M hòa giải nhiều lần nhưng ông M cho rằng đất ao là ông M mua của địa phương chứ không phải mua của vợ chồng bà.

Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của gia đình mình nên chồng bà là ông Đào Hữu H đại diện gia đình đã làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ để yêu cầu ông M và các thành viên trong gia đình phải trả lại vợ chồng bà thửa đất ao có diện tích 560m². Bà cũng kiến nghị UBND huyện Q thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông Đào Hữu M năm 2000 để cấp trả cho gia đình bà quyền sử dụng diện tích 560m² đất ao.

Riêng đối với phần đất ở, mặc dù trước đây vợ chồng bà chỉ bán và nhận tiền cho 180m² nhưng do không có giấy tờ và ông M đã sử dụng ổn định rồi nên vợ chồng bà không có yêu cầu đối với phần diện tích này.

Đối với yêu cầu khởi kiện của chồng bà, bà hoàn toàn nhất trí. Bà kính đề nghị Tòa án xem xét vụ án một cách khách quan, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho gia đình bà.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là các chị Đào Thị T1, Đào Thị N, Đào Thị L, Đào Thị H2 và Đào Thị H3 trình bày: Chúng tôi đều là con gái của ông Đào Hữu H và bà Nguyễn Thị M1. Chúng tôi được sinh ra và lớn lên ở trên thửa đất hiện gia đình ông M đang sử dụng tại thôn T, xã M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trạng thửa đất trước đây của gia đình tôi thể hiện là một phần đất ở có diện tích khoảng 01 sào và phần đất ao có diện tích khoảng hơn 500m². Đối với phần đất ở, theo chị em tôi được biết là của ông bà nội chúng tôi cho bố mẹ chúng tôi khi lấy nhau và ra ở riêng, còn phần đất ao là do gia đình chúng tôi đổi ruộng phần trăm ngoài đồng vào năm 1988 mới có. Như vậy, từ năm 1988 thì gia đình chúng tôi được quản lý và sử dụng toàn bộ diện tích đất ở và đất ao. Sau đó, bố mẹ chúng tôi đã xây tường quanh đất ở còn đất ao thì bố mẹ chúng tôi có xây bó móng thể hiện ranh giới hiện trạng của thửa đất.

Năm 1996, gia đình chúng tôi chuyển ra Hà Nội sinh sống nên bố mẹ chúng tôi đã giao toàn bộ diện tích đất cho ông M ở nhà trông nom giúp gia đình chúng tôi.

Sau này, thì chị em tôi được biết bố mẹ chúng tôi có bán cho ông M một phần đất ở còn đất ao thì bố mẹ chúng tôi không bán. Việc bán một phần đất ở này trước đây chị em tôi có biết và không có ý kiến gì. Tuy nhiên, phần đất ao thì bố mẹ chúng tôi không bán cho ông M. Sau khi gia đình chúng tôi chuyển ra Hà Nội, do điều kiện công việc và đi lại nên bố mẹ chúng tôi cũng ít về quê. Do đó, khi gia đình ông M làm hồ sơ cấp GCNQSDĐ thì gia đình chúng tôi không ai hay biết. Đến khi ông M xây nhà cho con vào năm 2022 thì bố mẹ chúng tôi mới biết phần đất ao của gia đình hiện đã đứng tên ông M và các thành viên gia đình.

Nhận thấy việc làm của vợ chồng ông M làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của gia đình chúng tôi nên bố chúng tôi đại diện gia đình đã làm đơn khởi kiện yêu cầu ông M trả lại quyền sử dụng diện tích đất ao với diện tích là 560m² mà hiện gia đình ông M đang quản lý và sử dụng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bố chúng tôi thì chị em chúng hoàn toàn nhất trí. Chị em chúng tôi kính đề nghị Tòa án xem xét vụ án một cách khách quan, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho gia đình chúng tôi.

Bà Nguyễn Thị T2 trình bày: Thửa đất gia đình bà đang sử dụng có nguồn gốc của vợ chồng ông Đào Hữu H và bà Nguyễn Thị M1. Năm 1996, vợ chồng ông H chuyển ra Hà Nội sinh sống và đã thống nhất, thỏa thuận bán thửa đất này cho vợ chồng bà. Để mua được thửa đất của ông H và bà M1, vợ chồng bà phải bán thửa đất cũ của gia đình ở xóm Đ và thêm tiền để mua thửa đất của ông H với giá 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Khi mua có lập biên bản mua bán đất viết tay và được chính quyền địa phương xác nhận. Hiện trạng thửa đất vợ chồng bà mua bao gồm là toàn bộ diện tích đất của ông H và bà M1, khuôn viên đất ở và đất ao.

Việc giao đất và giao tiền đã hoàn thành từ năm 1998. Khi mua đất xong vợ chồng bà đã ra ở ngay. Trên nền đất liền, vợ chồng bà để ở và sinh hoạt còn phần đất ao vợ chồng bà thả cá và nuôi vịt. Năm 2000, nhà nước có chính sách kê khai để làm hồ sơ cấp GCNQSDĐ. Sau khi địa phương đo vẽ sơ bộ, chồng bà đại diện gia đình mới tiến hành kê khai và được chính quyền địa phương xác nhận. Cùng năm đó, hộ gia đình bà được cấp GCNQSDĐ với diện tích là 844m². Từ khi mua đất, sinh sống và được cấp GCNQSDĐ đến nay, gia đình bà sử dụng ổn định liên tục và đã xây dựng các công trình trên đất. Trong thời gian sử dụng không có phát sinh tranh chấp với bất kỳ ai. Hiện thửa đất này vợ chồng bà đã chia tách cho các con.

Nay ông H khởi kiện buộc gia đình bà trả lại diện tích đất ao thì bà hoàn toàn không nhất trí. Đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.

Anh Đào Hữu T3 trình bày: Về nguồn gốc thửa đất mà vợ chồng anh đang sử dụng là của bố mẹ anh tặng cho anh vào năm 2022. Tài sản này anh được bố mẹ tặng cho riêng và hiện đã được cấp GCNQSDĐ tại thửa đất số 479, tờ bản đồ số 13, diện tích 419.6m². Toàn bộ thửa đất mà gia đình anh sử dụng trước đây có nguồn gốc là của ông H và bà M1 bán cho bố mẹ anh vào năm 1998. Gia đình anh sử dụng đất ổn định và không có phát sinh tranh chấp với ai. Sau đó, năm 2022 thì gia đình anh làm thủ tục tách sổ cho các thành viên trong gia đình. Nay ông H đề nghị Tòa án giải quyết buộc bố anh và gia đình anh phải trả lại cho ông H phần diện tích đất ao thì quan điểm của anh là không nhất trí.

Anh Đào Xuân L1 trình bày: Theo anh được biết thửa đất gia đình anh sử dụng là được bố mẹ anh mua lại của ông H và bà M1 từ năm 1998. Trong thời gian sử dụng thửa đất này, gia đình anh sử dụng ổn định và không có bất cứ tranh chấp với cá nhân, tổ chức nào. Năm 2022, bố mẹ anh đã làm thủ tục tách thửa và chia tách cho anh và anh trai anh. Hiện anh được cấp GCNQSDĐ tại thửa đất số 481, tờ bản đồ số 13, diện tích 347.5m² ở thôn T, xã M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay, ông H yêu cầu bố anh và các thành viên gia đình anh phải trả lại diện tích đất ao cho ông H thì anh không đồng ý.

Đại diện UBND thị xã Q trình bày: Ngày 20/6/2024, UBND thị xã Q nhận được công văn của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ về việc giải quyết vụ án dân sự giữa ông Đào Hữu H và ông Đào Hữu M do nguyên đơn có đề nghị đến việc cấp GCNQSDĐ vào năm 2000 với diện tích 844m² ở thôn T, xã M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết vụ án trên theo quy định của pháp luật.

Từ những nội dung trên bản án sơ thẩm đã căn cứ Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 160; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 116, 117, 118, 119, 690, 693, 696, 705, 706, 708, 712 Bộ luật dân sự năm 1995. Các Điều 107 108, 110, 170, 193, 234, 688, 691,692 Bộ luật dân sự năm 2005. Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 166, 170, 203 Luật đất đai năm 2013; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:

Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Đào Hữu H.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/8/2024, ông Đào Hữu H kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn ông Đào Hữu H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo và chấp nhận yêu cầu khởi kiện; Bị đơn giữ nguyên ý kiến của mình, đề nghị tòa án không chấp nhận đơn khởi kiện và đơn kháng cáo của ông H kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Trong phần tranh luận, người bảo vệ quyềm và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu tranh luận:

Thứ nhất, về tố tụng:

  • - Trong vụ án này ông H có 2 yêu cầu là hủy GCNQSDĐ đã cấp cho gia đình ông M và yêu cầu ông M phải trả lại 560m² đất ao của gia đình ông, do đó, căn cứ khoản 4 Điều 34 BLTTDS; khoản 1 Điều 31, khoản 4 Điều 32 Luật TTHC 2015 thì thẩm quyền giải quyết vụ án của TAND tỉnh Bắc Ninh không phải TAND tx Quế Võ.
  • - Vi phạm Điều 5 BLTTDS về quyền tự định đoạt của đương sự, ông H có 2 yêu cầu nhưng cấp sơ thẩm chỉ tập trung xem xét giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất mà không xem xét yêu cầu hủy GCNQSDĐ.
  • - Vi phạm về cấp bản án theo Điều 269 BLTTDS, sau khi xử ngày 16/8/2024, ông H nhiều lần yêu cầu cấp bản án nhưng không được giải quyết đến ngày 05/12/2024, khi luật sư làm thủ tục bảo vệ thì mới biết bản án sơ thẩm.

Thứ hai, về nội dung vụ án;

  • - Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án không có tài liệu nào thể hiện việc chuyển nhượng đất mà chỉ có thỏa thuận miệng, không thể hiện mua bản thửa đất nào, diện tích là bao nhiêu, trong khi đó ông H khẳng định chỉ bản 180m² và không bản diện tích đất ao, việc này phù hợp với lời khai trong biên bản hòa giải tại xã M.
  • - Về trình tự cấp GCNQSDĐ, theo luật đất đai năm 1993, quy định chặt chẽ các loại giấy tờ để chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp của mình nhưng trong suốt quá trình lấy lời khai ông M không nhất quán với nhứng lời khai tại tòa án. Do đó, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét hủy bản án nêu trên, đồng thời kiến nghị cơ quan điều tra của VKSNDTC xem xét thẩm phán Nguyễn Thị L2 ra bản án trái pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS xử, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Đào Hữu H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự cho ông H vì là người cao tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Đào Hữu H nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2]. Về nội dung:

Ông Đào Hữu H và ông Đào Hữu M có quan hệ họ hàng. Theo lời trình bày của nguyên đơn thì bố mẹ ông H cho vợ chồng ông 01 thửa đất ở có diện tích 01 sào tương đương 360m². Phía trước thửa đất ở là 01 cái ao của tập thể. Năm 1988 do chính sách của địa phương nên vợ chồng ông đã đổi đất 10% ngoài đồng để địa phương giao cho gia đình ông phần đất ao của tập thể. Sau khi được giao đất vợ chồng ông H đã tiến hành xây tường quây quanh thửa đất và sử dụng cho đến năm 1996 thì gia đình ông H chuyển ra Hà Nội sinh sống. Đến năm 1998 do không có nhu cầu sử dụng nên ông đã thống nhất bán cho ông M là cháu họ ½ diện tích đất ở tương đương 180m² với giá 20.000.000 đồng. Khi giao kết việc mua bán hai bên chỉ thỏa thuận bằng miệng, không có hợp đồng mua bán, phần đất ở còn lại và phần đất ao ông có nhờ ông M trông nom giúp ông chứ ông không bán. Vợ chồng ông M đã sinh sống và quản lý thửa đất này từ năm 1998 đến nay. Tuy nhiên năm 2022 ông biết ông M xây nhà cho con trên phần đất ao, sau khi tìm hiểu thì ông biết được phần diện tích đất ao đã được ông M kê khai từ năm 2000 và đã được UBND huyện Q (nay là thị xã Q) cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Đào Hữu M với diện tích 844m².

Ông H xác nhận chỉ bán cho ông M ½ diện tích đất ở tương đương 180m² chứ không bán cho ông M phần diện tích ao, do đó ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy GCNQSDĐ cấp cho hộ ông M năm 2000 và buộc ông M phải trả lại ông quyền sử dụng đất tại thửa đất ao có diện tích 560m² và tháo dỡ công trình xây dựng trên phần diện tích đất này.

Tòa án cấp sơ thẩm xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đào Hữu H. Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xử, nguyên đơn là ông Đào Hữu H kháng cáo toàn bộ bản án.

Xét kháng cáo của ông H thì thấy: Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H và ông M: Cả nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận giữa hai bên có việc mua bán chuyển nhượng thửa đất số 336, tờ bản đồ số 13, diện tích 862,6m² với giá chuyển nhượng là 20.000.000 đồng, tuy nhiên nguyên đơn cho rằng chỉ chuyển nhượng ½ diện tích đất ở của thửa đất trên tương đương 180m² còn phần diện tích đất ao chỉ nhờ ông M trông nom, quản lý giúp, việc mua bán chỉ được thỏa thuận bằng miệng, không được lập thành văn bản. Còn phía bị đơn cho rằng vợ chồng ông đã mua lại toàn bộ diện tích đất ao và diện tích đất ở của vợ chồng ông H, khi mua bán hai bên có lập giấy viết tay và có xác nhận của chính quyền địa phương nhưng vợ chồng ông đã nộp lại cho địa chính khi làm hồ sơ đăng ký đất đai năm 2000. Như vậy có thể thấy các đương sự đều không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào thể hiện việc giữa các bên thực hiện việc chuyển nhượng thửa đất với diện tích cụ thể là bao nhiêu.

Tuy nhiên căn cứ vào quá trình sử dụng thửa đất, quá trình lập hồ sơ đăng ký và đăng ký biến động quyền sử dụng đất thì sau khi nhận chuyển nhượng của ông H, bà M1 vào năm 1998 gia đình ông M đã ra thửa đất sinh sống và quản lý sử dụng. Đến năm 2000 khi Nhà nước có chủ trương đăng ký cấp GCNQSDĐ cho các hộ dân thì ông Đào Hữu M đã có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất với diện tích 844m². Tại Quyết định về việc cấp GCNQSDĐ số 340 ngày 24/11/2000, hộ ông Đào Hữu M nằm trong 939 chủ sử dụng đất được cấp GCNQSDĐ. Cùng ngày hộ ông Đào Hữu M được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ với diện tích 844m² tại tờ bản đồ xóm Dinh, số thửa 01, địa chỉ tại thôn T, xã M, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi được cấp GCNQSDĐ ông Đào Hữu M còn làm đơn xin cấp đổi GCNQSDĐ; làm đơn đăng ký biến động đất đai gửi cơ quan có thẩm quyền về việc phân chia thửa đất số 336 thành 03 thửa: thửa đất số 479, tờ bản đồ số 13, diện tích 419,6m² mang tên ông Đào Hữu T3; thửa đất số 480, tờ bản đồ số 13, diện tích 95,5m² mang tên hộ ông Đào Hữu M và bà Nguyễn Thị T2; thửa đất số 481, tờ bản đồ số 13, diện tích 347,5m² mang tên ông Đào Xuân L1. Toàn bộ quá trình làm hồ sơ đăng ký kê khai quyền sử dụng đất, đo vẽ hồ sơ kỹ thuật, làm thủ tục đăng ký biến động của ông Đào Hữu M đều được tuân theo đúng trình tự thủ tục và đúng quy định của pháp luật. Chính địa phương cũng đã xác nhận ông M sử dụng thửa đất từ năm 1998 đến khi hoàn thành việc đăng ký biến động năm 2022 không phát sinh bất kỳ tranh chấp nào.

Ông H trình bày phần diện tích đất ao ông chỉ nhờ ông M trông nom quản lý giúp nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào thể hiện việc cho ông M mượn đất. Ông H có nhiều người thân ở địa phương, thường xuyên về quê nhưng từ năm 1998 đến năm 2022 ông không trông nom, tu sửa, san lấp, không kê khai quyền sử dụng đất, không làm đơn đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này cũng như không có ý kiến hay phát sinh tranh chấp đất đai gì với gia đình ông M. Ngoài ra các bên đương sự cũng xác nhận việc đóng thuế đất đối với thửa đất trên toàn bộ là do ông Mạc Đ từ năm 1998 cho đến nay. Vợ chồng ông H không đóng thuế quyền sử dụng đất tranh chấp. Ông H cũng thừa nhận ông không được địa phương thông báo về việc nộp thuế và ông cũng không có thắc mắc hay khiếu nại với địa phương về việc không thu tiền thuế đất từ ông. Như vậy có thể thấy ông H và bà M1 không quản lý, trông nom phần đất tranh chấp từ năm 1998 đến nay và cũng không thực hiện việc đóng thuế đất đối với phần đất đó.

Bên cạnh đó ông H còn trình bày rằng phần diện tích đất ao là của vợ chồng ông đổi đất 10% mà có được, theo quy định tại thời điểm đó thì 1m² đất 10% phải trừ sẽ đổi được 2,5m² đất ao vì vậy ao của gia đình ông có diện tích là 228m² x 2,5 = 560m². Tuy nhiên ông H không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào thể hiện việc gia đình ông đổi đất 10% cũng như không cung cấp được biên bản giao đất ao của địa phương cho gia đình ông với diện tích là 560m². Ngoài ra căn cứ vào hồ sơ kỹ thuật được Xí nghiệp trắc địa 103 đo năm 2000 thể hiện hiện trạng thửa đất ông M đang sử dụng được chia làm 02 thửa là thửa đất số 224, tờ bản đồ số 13, diện tích 399m²; mục đích sử dụng: đất ao và thửa đất số 225, tờ bản đồ số 13, diện tích 464m²; mục đích sử dụng: đất thổ cư. Ông H cũng xác nhận hiện trạng đất từ năm 2001 vẫn được giữ nguyên và gia đình ông chưa bồi đắp thêm bất kỳ vị trí nào của thửa đất. Từ đó xác định diện tích đất ao không phù hợp với diện tích đất ao mà ông H trình bày là 560m².

Từ những phân tích trên có thể thấy việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông H và ông M đã được thực hiện và hoàn thành từ năm 1998. Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình ông M đã chuyển ra ở và sử dụng ổn định từ đó đến nay là 24 năm mà không xảy ra tranh chấp với bất kỳ ai. Việc cấp GCNQSDĐ, đăng ký biến động đều được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, ông H là người kháng cáo những không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ do đó cần bác toàn bộ kháng cáo của ông H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DSST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[3]. Án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông H là người cao tuổi nên theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí nên miễn toàn bộ án phí cho ông H là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đào Hữu H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DSST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.
  2. Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Đào Hữu H.
  3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DSST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND thị xã Quế Võ;
  • - Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/DS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 09/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Nguyên đơn: Ông Đào Hữu Hòa; Bị đơn: Ông Đào Hữu Mạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger