TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 29/11/2023 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Tuyết
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy
- Ông Nguyễn Văn Tịnh
- Thư ký phiên toà: Ông Sùng A Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Tính - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:07/2023/QĐXXST-HS ngày 15/11/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lù Văn V Không có tên gọi; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 02/01/1976;Tại: T, Lai Châu;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản K, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Giáy; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Lù A (Đã chết); con bà Hoàng Thị M, sinh năm 1938. Gia đình bị cáo có 07 anh em, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ và con. Tiền án, tiền sự: không;
Về nhân thân: tại Bản án số 46/HSST ngày 25/6/2003, Lù Văn V bị Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt 30 tháng tù giam về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”; tại Bản án số 36/2008/HSST ngày 20/9/2008, Lù Văn V bị Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt 36 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy"; tại bản án số 01/2012/HSST ngày 16/11/2011, Lù Văn V bị Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194, điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 xử phạt 07 năm tù giam về tội “ Tàng trữ, Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, thi hành xong các khoản án phí. Hiện bị cáo đã được xóa án tích đối với 03 bản án trên. Ngày 29/9/2005, Lù Văn V bị Chủ tịch UBND tỉnh L ra Quyết định số 1227 áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc do V đã có hành vi Trộm cắp tài sản nhiều lần nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Bị cáo chấp hành xong quyết định, hiện bị cáo được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/7/2023 đến ngày 02/8/2023 bị áp dụng biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- * Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L. (Có mặt).
- * Người tham gia tố tụng khác:
- - Người làm chứng: Anh Lê Văn S, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Bản N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lù Văn V, sinh ngày 02/01/1976, trú tại bản Km2, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu, V khai nhận bản thân là người nghiện chất ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 27/7/2023, V một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1 - 609.92 (thuộc quyền sở hữu của V) đi từ nhà ở đến thành phố L, tỉnh Lai Châu mục đích tìm mua Heroine để sử dụng cho bản thân. Khi Lù Văn V đi đến bản N, thị trấn T, huyện T thì gặp và đồng ý cho Lê Văn S đi nhờ về thành phố L. Khi V đi đến bản S, xã S, thành phố L thì dừng xe, V một mình đi bộ lên đồi chè ở khu vực nhà máy nước thuộc bản S, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu nhưng không nói cho S biết là đi đâu, S đứng ở xe chờ Vui. Tại đây, V gặp người đàn ông tên Đình chột, qua trao đổi, V mua được của Đ chột 01 gói Heroine được gói ngoài bằng nilon trong suốt với giá 2.500.000 đồng. Mua được H, Lù Văn V cất giấu trong lòng bàn tay trái rồi quay lại chỗ để xe mô tô tiếp tục điều khiển xe mô tô chở S quay về, V không nói cho S biết việc cất giấu ma túy trên người. Hồi 19 giờ ngày 27/7/2023, Lù Văn V đi đến bản N, thị trấn T, huyện T thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh L phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, vật chứng thu giữ của V là 01 gói Heroine, 01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1 - 609.92.
Tại bản Kết luận giám định tư pháp số 921/KL-KTHS ngày 27/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 01 gói chất bột màu trắng thu giữ của Lù Văn V vào ngày 27/7/2023 có tổng khối lượng là: 3,32 gam.
Tại bản Kết luận giám định số 922/KL-KTHS ngày 31/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Bản cáo trạng số 83/CT-VKSTĐ, ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố bị cáo Lù Văn V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận điều tra và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lù Văn V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lù Văn V từ 03 năm đến 04 năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 27/7/2023. Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 2,73 gam Heroine, các mảnh nilon và giấy gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lù Văn V. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1 - 609.92 thu giữ của Lù Văn V. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lù Văn V theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lù Văn V không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Kiểm sát viên đối đáp: Đối với đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo giảm nhẹ một phần hình phạt của người bào chữa, Kiểm sát viên cho rằng với mức án mà Viện kiểm sát đề nghị phù hợp với tính chất hành vi phạm phạm tội, với nhân thân của bị cáo nên giữ nguyên quan điểm của mình và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ để quyết định mức án phù hợp có tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Bị cáo Lù Văn V không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường.
Tại lời nói sau cùng bị cáo Lù Văn V xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người bào chữa đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Lù Văn V đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định: Hồi 19 giờ ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại bản N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lù Văn V đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 3,32 gam, mục đích để sử dụng thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh L phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, làm tổn hại cho sức khỏe, nhân phẩm của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, đủ cơ sơ để khẳng định hành vi của bị cáo Lù Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc (được coi là chưa bị xử lý hành chính) và bị xét xử về tội phạm liên quan đến ma túy (đã được xóa án tích) đi chấp hành án chịu sự giáo dục nghiêm khắc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số; thuộc hộ nghèo. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Đối với 0,59 (Không phẩy năm mươi chín gam) heroine thu giữ của bị cáo Lù Văn V đã gửi đi giám định không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Đối với 2,73 gam Heroine, các mảnh nilon và giấy gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lù Văn V là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1 - 609.92 thu giữ của Lù Văn V là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
[6] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc Heroine, bị cáo Lù Văn V khai mua của người đàn ông tên Đình chột. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, kết quả xác minh Đình chột họ tên đầy đủ là Lù Văn Đ1, sinh năm 1977, trú tại bản S, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu. Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai, đối chất giữa V và Đ1 nhưng Đ1 không thừa nhận việc bán H cho V. Ngoài lời khai của V, quá trình điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, không đủ căn cứ để kết luận Lù Văn Đ1 thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đối với Lê Văn S là người đi cùng Lù Văn V. Quá trình điều tra xác định, S không biết việc V tàng trữ trái phép Heroine trên người. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Lê Văn S là đúng quy định.
[7] Về án phí:
Tại phiên tòa, bị cáo Lù Văn V đề nghị hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo Lù Văn V thuộc hộ nghèo theo quy định Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lù Văn V thuộc trường hợp miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 ; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lù Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lù Văn V 38 (Ba mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 27/7/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 2,73 gam Heroine, các mảnh nilon và giấy gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lù Văn V.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE alpha, biển kiểm soát 25B1-609.92
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15giờ 30 phút ngày 30/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường).
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lù Văn V.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hồ Thị Tuyết |
Bản án số 09/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 09/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lù Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
