Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG


Bản án số: 09/2022/DS-ST
Ngày 07 tháng 4 năm 2022
V/v: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Trinh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Lệ, Ông Nguyễn Toàn

- Thư ký phiên toà: Ông Khuất Duy Toàn - Cán bộ Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 125/2021/TLST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXX-ST ngày 20 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị B – sinh năm 1964; trú tại: K82/125 đường N, phường B, quận L, TP. Đà Nẵng. Có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Võ Đức T – sinh năm 1999; trú tại: Số 37 đường P, phường M, quận L, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • + Bà Lê Thanh H – sinh năm 1983; trú tại: Số 207C/16 đường D, phường T, quận T, TP Đà Nẵng. Vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
    • + Bà Nguyễn Thị H1 – sinh năm 1964; trú tại: K818/1 đường T, phường Đ, quận T, TP Đà Nẵng. Vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Trần Thị B trình bày: Cháu Lê Thanh H là con của người bạn tôi, do biết cháu H có nhu cầu mua đất định cư tại thành phố Đà Nẵng nên tôi đã giới thiệu để cháu H nhận chuyển nhượng thửa đất số 261, tờ bản đồ số 16, diện tích 100m2 thuộc K454 đường T, tổ 27, phường N, quận L, TP. Đà Nẵng. Theo tôi được biết diện tích đất này mới có Đơn xin giao đất để xây dựng nhà ở đứng tên ông Phan Đình T1 có xác nhận của UBND phường H, quận L, TP Đà Nẵng ngày 07/02/2020, đã bán cho ông Nguyễn Văn T2 và ông Nguyễn Văn T2 đã nhờ ông Võ Đức T làm môi giới bán đất. Tuy nhiên, do cháu H đang mang thai và gần sinh con nên mọi việc cháu nhờ tôi đứng ra giao dịch với ông T.

Vào ngày 02/11/2020 tại Văn phòng dịch vụ nhà đất Land Đức Thành Đạt tại đường Đ, khu đô thị P, thuộc phường H, quận C, TP. Đà Nẵng, tôi và ông T đã thỏa thuận và đi đến thống nhất ký 02 Hợp đồng đặt cọc với nội dung: Theo Hợp đồng đặt cọc ngày 02/11/2020 thì ông T đồng ý làm các thủ tục chuyển nhượng lô đất thửa đất trên cho cháu H với số tiền 470.000.000 đồng, đặt cọc trước 200.000.000 đồng và ông T cam kết làm một cái nhà tôn 30m2 nên láng xi măng và hẹn ngày 22/11/2020 ông T sẽ giao nhà và ra công chứng. Bên mua chồng đủ tiền, nếu ngày đó bên mua không chồng đủ tiền thì sẽ mất cọc. Ngày 03/11/2020, ông T xác nhận đã nhận tiền cọc là 200.000.000 đồng phía sau Hợp đồng đặt cọc nhưng đến ngày 22/11/2020 ông T không thực hiện đúng hợp đồng, không làm được nhà tôn nên ông T yêu cầu tôi đưa tiếp số tiền 100.000.000 đồng để ông làm nhà. Do đó, hai bên có ký tiếp Hợp đồng đặt cọc đề ngày 13/11/2020 với nội dung thỏa thuận lại số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng và hẹn ngày 28/11/2020 sẽ bàn giao nhà và ra công chứng. Lần này ông T cũng nhấn mạnh nếu bên mua ngày đó ra công chứng mà không đủ tiền thì mất cọc 300.000.000 đồng. Đến ngày 28/11/2020 ông T vẫn không thực hiện đúng hợp đồng mà còn yêu cầu tôi đưa tiếp 150.000.000 đồng nhưng tôi không đồng ý. Do ông T không thực hiện đúng cam kết nên tôi đã yêu cầu ông T trả lại tôi số tiền 300.000.000 đồng nhưng ông chi trả được 200.000.000 đồng. Nay, tôi khởi kiện yêu cầu ông T hoàn trả số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng.

Bị đơn – ông Võ Đức T vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Thừa nhận có ký hợp đồng đặt cọc và nhận 300.000.000 đồng từ bà B. Tuy nhiên ông T cho rằng đã chi hoa hồng cho bà B và bà Nguyễn Thị H1 tổng số tiền 69.000.000 đồng. Ông T xác nhận hiện còn nợ bà B số tiền 31.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: Việc ký kết hợp đồng đặt cọc giữa bà B và ông T là hoàn toàn tự nguyện, có hiệu lực pháp luật. Do ông T không thực hiện được các thủ tục để chuyển nhượng quyền sử dụng đất như cam kết nên phải có nghĩa vụ trả lại tiền cọc cho bà B. Xét thấy ông T đã trả được 200.000.000 đồng, số tiền còn lại 100.000.000 đồng ông T chưa trả là vi phạm nghĩa vụ. Đối với số tiền hoa hồng ông T khai đã chi, do bà B không thừa nhận và ông T không có chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị B. Buộc ông Võ Đức T phải trả cho bà Trần Thị B số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Đức T phải chịu 5.000.000 đồng. Hoàn trả cho bà Trần Thị B 2.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
  3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND quận Liên Chiểu;
- Chi cục THADS quận Liên Chiểu;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Thị Kim Trinh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2022/DS-ST ngày 07/04/2022 của Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 09/2022/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/04/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị B + Võ Đức T tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger