|
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC 1 QUÂN KHU 5 Bản án số: 09/2021/HS-ST Ngày 10 - 11 - 2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC 1 QUÂN KHU 5
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: 1// Nguyễn Tấn Tùng.
Các Hội thẩm quân nhân:
- Nguyễn Hồng Vinh.
- Lê Văn Nam.
- Thư ký phiên tòa: 1// Nguyễn Tất Trình, Thư ký Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 5.
- Đại diện Viện kiểm sát quân sự Khu vực 51 Quân khu 5 tham gia phiên tòa: 3// Lê Tuấn Phong, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 11 năm 2021 tại Phòng xử án Tòa án quân sự Quân khu 5, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2021/TLST-HS ngày 20/4/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2021/QĐXXST-HS ngày 16/7/2021 đối với các bị cáo:
- Đào K; tên gọi khác: T; sinh ngày 07/8/1985 tại tỉnh Bình Định; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: H 893, đường H, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; cấp bậc, chức vụ, đơn vị khi phạm tội: 2/ QNCN, Nhân viên quản lý bếp ăn, Kho B, Cục K, Quân khu 5; bị tạm giữ từ ngày 23/8/2020, tạm giam từ ngày 01/9/2020; có mặt.
- Trần Thanh N; sinh ngày 23/12/1997 tại tỉnh Kon Tum; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Thôn ĐN, xã ĐN, huyện ĐG, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Lao động tự do; bị bắt tạm giam từ ngày 08/01/2021; có mặt.
- Nguyễn Thanh T; sinh ngày 10/9/1982 tại tỉnh Bình Định; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Xóm 3, thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định; cấp bậc, chức vụ, đơn vị khi phạm tội: 3/ QNCN, Thủ kho vũ khí, Kho B, Cục K, Quân khu 5; bị bắt tạm giam từ ngày 01/9/2020; có mặt.
- Ngô Anh T1; tên gọi khác: N; sinh ngày 03/12/1988 tại tỉnh Quảng Ninh; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: T4, K2, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/8/2020, tạm giam từ ngày 24/8/2020; có mặt.
- Nguyễn Đức S; sinh ngày 19/5/1969, tại tỉnh Quảng Trị; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: K3, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/8/2020, tạm giam từ ngày 24/8/2020 đến ngày 12/01/2021; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong khoảng thời gian từ năm 2017 đến tháng 8 năm 2020, Đào K thông qua mạng xã hội quen biết Trần Thanh N, Ngô Anh T1, Phạm T. Biết Ngô Anh T1 và Trần Thanh N có nhu cầu mua các loại súng và bộ phận của súng, Đào K đã bàn bạc với Nguyễn Thanh T chiếm đoạt súng và các bộ phận của súng bộ binh cấp 5 nằm trong thực lực quản lý của Kho B, để bán cho Trần Thanh N và Ngô Anh T1 lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân.
Tổng số súng mà Đào K cùng Nguyễn Thanh T chiếm đoạt trong Kho B là 27 khẩu súng bộ binh cấp 5 các loại gồm 15 khẩu súng AK, 02 khẩu súng K54, 05 khẩu súng Colt45, 01 khẩu súng Colt38, 04 khẩu súng Carbine và 09 khung tay cò của súng tiểu liên AR15. Ngoài ra, Đào K và Nguyễn Thanh T còn chiếm đoạt nhiều bộ phận của các loại súng bộ binh như lưỡi lê AK đa năng, hộp tiếp đạn, tay cầm, khóa nòng, bệ khóa nòng, khung tay cò, báng súng...
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Đào K phạm tội “Chiếm đoạt, mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; xử phạt bị cáo Đào K 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- Tuyên bố bị cáo Trần Thanh N phạm tội “Chiếm đoạt, mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; xử phạt bị cáo Trần Thanh N 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Chiếm đoạt, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- Tuyên bố bị cáo Ngô Anh T1 phạm tội “Mua bán, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”; xử phạt bị cáo Ngô Anh T1 46 (Bốn mươi sáu) tháng tù.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức S phạm tội “Mua bán, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức S 16 (Mười sáu) tháng tù.
2. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền do các bị cáo phạm tội mà có gồm: 146.300.000 đồng của Đào K; 101.000.000 đồng của Nguyễn Thanh T; 109.000.000 đồng của Trần Thanh N; 2.000.000 đồng của Nguyễn Đức S.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy và tịch thu nộp ngân sách Nhà nước các loại súng, bộ phận súng và điện thoại di động đã thu giữ theo quy định.
4. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - Viện KSQSQK5; - Viện KSQSKV51 QK5; - Các bị cáo(05); - Nguyên đơn dân sự; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Cơ quan ANĐT QK5; - Cơ quan THAHS QK5; - Phòng THA QK5; - Trại tạm giam QK5(05); - Lưu HSVA, THAHS. T20. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Tấn Tùng |
Bản án số 09/2021/HS-ST ngày 10/11/2021 của Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 5 về chiếm đoạt, mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 09/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chiếm đoạt, mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/11/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 5
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ năm 2017 đến tháng 8/2020, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, Đào K cùng Nguyễn Thanh T đã nhiều lần vào kho của Kho B chiếm đoạt 27 khẩu súng bộ binh cấp 5 các loại gồm 15 khẩu súng AK, 02 khẩu súng K54, 05 khẩu súng Colt45, 01 khẩu súng Colt38, 04 khẩu súng Carbine; 09 khung tay cò của súng tiểu liên AR15 và nhiều bộ phận của các loại súng. Đào K cùng Nguyễn Thanh T đã bán cho Trần Thanh N tổng cộng 12 khẩu súng gồm 01 khẩu súng Colt45 và 11 khẩu súng AK với số tiền 70.000.000 đồng, Đào K chia cho Nguyễn Thanh T 37.500.000 đồng. Đào K cùng Nguyễn Thanh T đã bán cho Ngô Anh T1 08 khẩu súng gồm 03 khẩu súng AK, 02 khẩu súng Colt45, 02 khẩu súng K54 và 01 khẩu súng AR15 với tổng số tiền là 177.300.000 đồng, Đào K chia cho Nguyễn Thanh T 63.500.000 đồng. Như vậy, Đào K cùng Nguyễn Thanh T đã bán cho Trần Thanh N, Ngô Anh T1 tổng cộng 20 khẩu súng cấp 5 các loại với tổng số tiền là 247.300.000 đồng, K đã chia cho Nguyễn Thanh T 101.000.000 đồng, K giữ lại 146.300.000 đồng. Ngoài ra, Đào K còn bán cho Ngô Anh T1 01 khẩu súng tiểu liên AR15 với giá 25.000.000 đồng nhưng sau đó K biết hành vi phạm tội của K đã bị phát hiện nên không đến nhận tiền và giao súng; tàng trữ 01 khẩu súng tiểu liên AR15 và 700 viên đạn AR15. Đối với bị cáo N ngoài hành vi mua bán trái phép vũ khí quân dụng với K; N còn là người trung gian nhận tiền mua súng là 15.000.000 đồng từ Ngô Anh T1 rồi chuyển số tiền này cho K. Do đó, N đồng phạm với K, Ngô Anh T1 về hành vi mua bán trái phép vũ khí quân dụng. N đã bán cho Ngô Anh T1 03 khẩu súng được 109.000.000 đồng. N có hành vi trao đổi, bàn bạc nhờ K kết nối với thủ kho Thanh T chiếm đoạt 07 khẩu súng AK tại Kho B để N mua lại và đem giao nộp cơ quan điều tra trong vụ án khác. Như vậy, N đồng phạm với K và Thanh T về hành vi chiếm đoạt trái phép 07 khẩu súng AK của Kho B. Bị cáo N tàng trữ tại nhà 01 khẩu súng AK số hiệu P34972 mua của K; 01 khẩu súng AK Vzor 58 mua của người dân gần vùng biên giới. Đối với bị cáo Ngô Anh T1 ngoài hành vi mua bán trái phép các loại súng với Đào K và Trần Thanh N, Ngô Anh T1 còn có hành vi cùng với Nguyễn Đức S mua bán, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng bao gồm 02 khẩu súng ngắn và 216 viên đạn. Nguyễn Đức S tuy không biết về giao dịch giữa Ngô Anh T1 với Huỳnh Tâm T nhưng khi mua súng xong, S đồng ý chở Ngô Anh T1 vận chuyển súng, đạn về thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Do đó, Nguyễn Đức S cũng đồng phạm với Ngô Anh T1 về hành vi mua bán, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng.
