|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MƯỜNG LAY TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 09/2021/HS-ST Ngày 14/7/2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Thân Văn Hàm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Điêu Văn Sáng, Ông Lò Văn Hưng
- Thư ký phiên tòa: ông Thiều Tất Lơ - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Mường Lay.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đỗ - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2021/TLST-HS, ngày 31/5/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HS ngày 30/6/2021 đối với bị cáo:
Phạm Tiến B (tên gọi khác: không); sinh năm 1982. Nơi ĐKHKTT: Tổ 4, phường NL, thị xã ML, tỉnh ĐB. Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Phạm Tiến S sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Li Sinh năm: 1955; bị cáo có vợ Vương Thị Thu T sinh năm 1982; Bị cáo có 01 con sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/06/2017 bị Công an tỉnh Điện Biên xử phạt hành chính về hành vi Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển sử dụng mua bán hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/02/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lò Ngọc T; sinh năm 1987; Trú tại: Tổ 3, phường NL, thị xã ML, tỉnh ĐB. (Có mặt)
- Chị Vương Thị Thu T sinh năm 1982: Trú tại: Tổ 4, phường NL, thị xã ML, tỉnh ĐB. (Có mặt)
- Anh Nguyễn Đức Lưu; sinh năm 1990; Trú tại: Tổ 1, phường NL, thị xã ML, tỉnh ĐB. (Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thời gian trước ngày 13/5/2019 Phạm Tiến B có cho Lò Ngọc T vay 10.000.000đ, sau đó vài ngày B lại tiếp tục cho Tuấn vay thêm 2.000.000đ. Ngày 13/5/2019 Phạm Tiến B cho Lò Ngọc T vay thêm 10.000.000đ và có yêu cầu Lò Ngọc T viết giấy vay tiền với tổng số các lần vay tiền là 24.000.000đ (Bao gồm 10.000.000đ vay mới + 12.000.000đ vay trước + 2.000.000đ lãi). Phạm Tiến B thỏa thuận miệng với Lò Ngọc T là lãi suất 20.000đ/1 triệu/1 ngày.
Quá trình trả lãi, gốc Lò Ngọc T chuyển từ tài khoản ngân hàng của T số tài khoản 8902215000432 đến số tài khoản 8902205004521 của Phạm Tiến B cụ thể như sau:
- Ngày 24/5/2019 Lò Ngọc T chuyển trả cho B số tiền là 3.600.000đ tiền lãi của số tiền gốc 24.000.000đ.
- Ngày 27/5/2019 T chuyển khoản cho B 10.000.000đ tiền gốc và nợ lại B 14.000.000đ.
- Ngày 27/7/2019 Tuấn chuyển khoản trả lãi cho B số tiền 2.000.000đ của số tiền gốc 14.000.000đ.
- Ngày 06/9/2019 B cho T vay thêm 10.000.000đ tiền gốc. T có viết giấy vay nợ để B giữ và thỏa thuận miệng với nhau lãi là 20.000đ/1 triệu /1ngày, tổng cộng B cho T vay tiền gốc là 24.000.000đ. Từ ngày 06/09/2019 đến ngày 19/01/2021 T không trả gốc cho B mà chỉ trả lãi cho B là 32 lần với tổng số tiền là 71.500.000đ.
Đến ngày 24/01/2021 Bảo gọi T đến nhà để chốt số tiền gốc và lãi còn nợ là 55.000.000đ, trong đó số tiền gốc là 24.000.000đ, tiền lãi là 31.000.000đ, ngày 02/02/2021 T chuyển trả cho B số tiền là 35.000.000đ trong đó gồm 31.000.000đ là tiền lãi và 4.000.000đ tiền gốc. T còn nợ B số tiền gốc là 20.000.000đ và hẹn sau tết sẽ thanh toán hết.
Số tiền lãi thu lợi bất chính của Phạm Tiến B được xác định như sau:
Từ ngày 13/5/2019 đến ngày 27/5/2019 là (14 ngày) B cho T vay số tiền gốc là 24.000.000đ, thu được số tiền lãi là 3.600.000đ tương đương với lãi xuất 391,07%/năm; gấp 19,55 lần mức lãi xuất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định, số tiền B được thu tối đa theo quy định là 184.110đ, số tiền B thu lợi bất chính là 3.415.890đ.
Từ ngày 06/9/2019 đến ngày 24/01/2021 là (507 ngày) B cho T vay số tiền gốc là 24.000.000đ, thu được số tiền lãi 102.500.000đ, tương đương với lãi xuất 307,47%; gấp 15,37 lần mức lãi xuất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định; Số tiền B được thu tối đa theo quy định là 6.667.397 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 95.832.603đ.
Tổng cộng Phạm Tiến B cho Lò Ngọc T vay 24.000.000đ, số tiền mà B thu từ cho vay nặng lãi là: 106.100.000đ; Số tiền mà B được phép thu lãi tối đa theo quy định của Bộ Luật dân sự là 6.851.507đ, số tiền B thu lợi bất chính của là 99.248.493đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm tiến B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở xác định bị cáo phạm tội "Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự".
[2]. Xét tính chất mức độ và hậu quả của tội phạm: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý các hoạt động tín dụng, xâm phạm lợi ích của công dân, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 201; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự:
[1]. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tiến B phạm tội “Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự”.
[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Tiến B 170.000.000đ (Một trăm bẩy mươi triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
[3]. Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Tiến B phải trả cho anh Lò Ngọc T số tiền: 27.748.493đ. Khấu trừ vào số tiền 35.000.000đ gia đình bị cáo tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả. Số tiền còn lại là 7.251.507 đ tịch thu để nộp vào khoản tiền phạt 170.000.000đ sung quỹ Nhà nước.
|
Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA - TA Tỉnh ĐB; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND thị xã Mường Lay; - Đội điều tra Công an thị xã Mường Lay; - Cơ quan THAHS CA thị xã Mường Lay; - Chi cục THA dân sự thị xã Mường Lay; - PC 10 (THAHS) CA tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp; - Bị cáo, Người có QLNV liên quan; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ VA,KT. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký đóng dấu) Thân Văn Hàm |
|
Các Hội thẩm nhân dân: Điêu Văn Sáng Hoàng Văn Tương |
Thẩm phán Thân Văn Hàm |
Bản án số 09/2021/HS-ST ngày 14/07/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên về cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 09/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/07/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thời gian trước ngày 13/5/2019 Phạm Tiến B có cho Lò Ngọc T vay 10.000.000đ, sau đó vài ngày B lại tiếp tục cho Tuấn vay thêm 2.000.000đ( Bảo và T không nhớ ngày tháng). Ngày 13/5/2019 Phạm Tiến B cho Lò Ngọc T vay thêm 10.000.000đ và có yêu cầu Lò Ngọc T viết giấy vay tiền với tổng số các lần vay tiền là 24.000.000đ ( Bao gồm 10.000.000đ vay mới + 12.000.000đ vay trước + 2.000.000đ lãi) = 24.000.000đ. Phạm Tiến B thỏa thuận miệng với Lò Ngọc T là lãi suất 20.000đ/1 triệu/1 ngày. Quá trình trả lãi, gốc Lò Ngọc T chuyển từ tài khoản ngân hàng của Tsố tài khoản 8902215000432 đến số tài khoản 8902205004521 của Phạm Tiến B cụ thể như sau: Ngày 24/5/2019 Lò Ngọc T chuyển trả cho B số tiền là 3.600.000đ tiền lãi của số tiền gốc 24.000.000đ. Ngày 27/5/2019 T chuyển khoản cho B 10.000.000đ tiền gốc và nợ lại B 14.000.000đ nhưng không viết lại giấy vay tiền. Ngày 27/7/2019 Tuấn chuyển khoản trả lãi cho B số tiền 2.000.000đ của số tiền gốc 14.000.000đ. Ngày 06/9/2019 B cho T vay thêm 10.000.000đ tiền gốc. T có viết giấy vay nợ để B giữ và thỏa thuận miệng với nhau lãi là 20.000đ/1 triệu /1ngày, tổng cộng B cho T vay tiền gốc là 24.000.000đ. Từ ngày 06/09/2019 đến ngày 19/01/2021 T không trả gốc cho B mà chỉ trả lãi cho B là 32 lần với tổng số tiền là 71.500.000đ. Đến ngày 24/01/2021 Bảo gọi T đến nhà để chốt số tiền gốc và lãi còn nợ là 55.000.000đ, trong đó số tiền gốc là 24.000.000đ, tiền lãi là 31.000.000đ, ngày 02/02/2021 T chuyển trả cho B số tiền là 35.000.000đ trong đó gồm 31.000.000đ là tiền lãi và 4.000.000đ tiền gốc. T còn nợ B số tiền gốc là 20.000.000đ và hẹn sau tết sẽ thanh toán hết.
