Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 09/2021/HNGĐ – ST

Ngày 29 tháng 6 năm 2021

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Mai;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đức Trưởng và ông Nguyễn Đức Nghị.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tiệp – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2021/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2021/QĐST – HNGĐ ngày 31/5/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lục Thị H, sinh năm 1995 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Khu 6, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn: Ông Bùi Đức D – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ (có mặt).

Bị đơn: Anh Hà Văn X, sinh năm 1987 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khu 6, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/3/2021 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Lục Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ngày 28/9/2012, chị và anh Hà Văn X đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi đăng ký kết hôn, chị và anh X ở cùng bố mẹ đẻ anh X tại khu 6, xã T. Quá trình chung sống, vợ chồng thường mâu thuẫn, nguyên nhân chính là vợ chồng không hợp nhau. Đầu năm 2017, chị H và anh X đều đi làm thuê mỗi người ở một nơi khác nhau nên vợ chồng không ai quan tâm đến nhau nữa và mâu thuẫn càng thêm căng thẳng chị và anh X cũng ly thân nhau từ đó đến nay.

Gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên giải, nhưng mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện T, cho chị được ly hôn anh X.

- Về con chung: Chị và anh X, có 02 con chung là cháu Hà Khánh V, sinh ngày 16/8/2012 và cháu Hà Quang H, sinh ngày 01/9/2015. Khi ly hôn, chị đồng ý để các cháu cho anh X chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.

- Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2] Về phía bị đơn anh Hà Văn X: Anh X đã được thông báo về việc Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án Hôn nhân và gia đình giữa chị H và anh. Tại bản tự khai ngày 22/4/2021, anh X đã trình bày: Anh và chị H có đăng ký kết hôn, trong cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn; tuy nhiên, anh mong muốn được Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ với nhau.

Về con chung: Anh X xác nhận, vợ chồng có con chung như chị H trình bày là đúng. Trong trường hợp vợ chồng ly hôn, anh đề nghị được nuôi con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản, công nợ, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3]. Quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn: Đề nghị Tòa án xem xét tình trạng quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh X cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để chấp nhận yêu cầu của chị H. Cho chị H được ly hôn anh X. Giao cho anh X được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh X không yêu cầu.

[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định; Bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H; cho chị H được ly hôn anh X. Về con chung: Giao cháu Hà Khánh V và cháu Hà Quang H cho anh X chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Không xem xét. Về án phí: Chị H phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T. Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ nhưng anh X cố ý vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị H và anh X là hợp pháp. Tuy nhiên quá trình chung sống không hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng, đã ly thân. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

2.2. Về con chung: Có 02 con chung là Hà Khánh V (2012) và Hà Quang H (2015). Xét nguyện vọng của các bên và thực tế các cháu đang ở ổn định với anh X và ông bà nội, Hội đồng xét xử giao các con cho anh X trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con do anh X không yêu cầu.

2.3. Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

2.4. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lục Thị H được ly hôn anh Hà Văn X.
  2. Về con chung: Giao cho anh Hà Văn X được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hà Khánh V, sinh ngày 16/8/2012 và cháu Hà Quang H, sinh ngày 01/9/2015 đến khi từng cháu thành niên. Chị H không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do anh X không yêu cầu.
  3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lục Thị H phải chịu 300.000 VNĐ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp đủ theo Biên lai số AA/2019/0003102 ngày 15/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
  • - VKSND huyện T;
  • - THADS huyện T;
  • - UBND xã T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ


(đã ký)


Nguyễn Thị Hồng Mai
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2021/HNGĐ – ST ngày 29/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 09/2021/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/06/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn và yêu cầu giải quyết việc nuôi con đối với anh X
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger