|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 09/2021/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 3 - 2021 V/v: Tranh chấp về yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Lam.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lâm Ngọc Hà. 2. Ông Nguyễn Văn Ngư.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Mộng Kiều – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 255/2020/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp về yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05/02/2021, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Tô Ngọc L. Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)
2/ Bị đơn: Anh Thạch Văn T. Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/10/2020, nguyên đơn chị Tô Ngọc L trình bày: Vào năm 2007, chị Tô Ngọc L và anh Thạch Văn T chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình chung sống, chị và anh Thạch Văn T có 01 con chung tên Thạch T1, sinh ngày 31/10/2008. Thời gian đầu, chị và anh Thạch Văn T chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Thạch Văn T thường xuyên uống rượu, bia, về nhà đập phá đồ đạc trong nhà, nên dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị và anh Thạch Văn T đã không còn sống chung từ năm 2013 đến nay.
Nay nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh Thạch Văn T đã không còn chung sống thời gian dài. Do đó, chị Tô Ngọc L yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Chị yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận chị và anh Thạch Văn T là vợ chồng.
- Về con chung: Chị đồng ý giao con chung tên Thạch T1, sinh ngày 31/10/2008 cho anh T nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và chị đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Thạch Văn T: Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Thạch Văn T, nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, ông Thạch Văn T vắng mặt, không tham gia tố tụng, không gửi cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; Nguyên đơn chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, bị đơn anh Thạch Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, là chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chị Tô Ngọc L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận chị và anh Thạch Văn T là vợ chồng; Về con chung: Chị đồng ý giao cháu Thạch T1 cho anh Thạch Văn T nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật giải quyết “Tranh chấp về yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1, 7 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Tại phiên tòa chị Tô Ngọc L thay đổi yêu cầu khởi kiện là yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thạch T1, sinh ngày 31/10/2008 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Thạch Văn T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của chị L là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của chị theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Bị đơn anh Thạch Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Thạch Văn T.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1,7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ các Điều 14, 15, 53, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tô Ngọc L.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Tô Ngọc L và anh Thạch Văn T là vợ chồng.
- Về con chung: Giao cháu Thạch T1, sinh ngày 31/10/2008 cho chị Tô Ngọc L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, anh Thạch Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Tô Ngọc L không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Tô Ngọc L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số AA/2017/0005286 ngày 08/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
|
Nơi nhận: - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Lam |
Bản án số 09/2021/HNGĐ-ST ngày 05/03/2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp về yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 09/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận bà L và ông T là vợ chồng
