|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 09/2021/HNGĐ-ST Ngày 25-6-2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Duy Khoa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Khắc Quyết
- Ông Đinh Xuân Nhuần
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghiệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2021 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Vũ Văn S, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện đề ngày 02-02-2021, Bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đỗ Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hợp Đức, huyện Kiến Thụy (nay là phường Hợp Đức, quận Đồ Sơn), thành phố Hải Phòng vào ngày 16-12-2003. Chị và anh S chung sống hòa thuận, hạnh phúc được 7 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, kinh tế khó khăn; anh S thường xuyên chơi bời, không có trách nhiệm với gia đình và các con, một mình chị phải lo hết mọi việc, chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh S không thay đổi nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Chị và anh S đã sống ly thân và không còn quan tâm gì đến nhau, việc ai người ấy làm. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh S.
Về con chung: Chị và anh S có 02 con chung là cháu Vũ Thị Thuỳ D, sinh ngày 20-9-2005 và cháu Vũ Văn Đ, sinh ngày 30-7-2008. Chị nhận nuôi cả hai con; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị và anh S tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 07-5-2021, bị đơn là anh Vũ Văn S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đỗ Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hợp Đức, huyện Kiến Thụy (nay là phường Hợp Đức, quận Đồ Sơn), thành phố Hải Phòng vào ngày 16-12-2003. Anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc chị H có ý định ly hôn với anh. Nguyên nhân mâu thuẫn một phần là do anh có chơi bời, nợ nần khiến chị H có những lời nói, hành động rất khó chịu với anh. Theo anh thì chỉ với lý do như vậy thì không đến mức độ phải ly hôn. Tuy nhiên, nếu chị H muốn ly hôn thì anh cũng để chị H thích làm gì thì làm, anh không níu kéo, không nhờ Tòa án hòa giải cho vợ chồng quay về đoàn tụ. Hiện nay, anh và chị H vẫn sống cùng nhà nhưng không còn quan tâm đến nhau. Nay chị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung như chị H trình bày. Các cháu đã lớn, có thể tự quyết định việc ở với ai nên anh đề nghị Tòa án hỏi ý kiến các cháu. Trường hợp các cháu đều muốn ở với chị H hay muốn ở với anh thì anh đều đồng ý.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Anh và chị H sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản làm việc ngày 29-4-2021, hai con chung trên 07 tuổi của chị H và anh S là cháu Vũ Thị Thuỳ D và cháu Vũ Văn Đ trình bày: Cả hai cháu đều muốn được sống cùng với cả bố lẫn mẹ nhưng nếu bố mẹ ly hôn, nguyện vọng của hai cháu mong muốn được sống cùng với mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn là anh Vũ Văn S, cư trú tại quận Đồ Sơn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ độ tuổi kết hôn, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị H và anh S phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, xúc phạm nhau; hiện nay mặc dù sống cùng nhà nhưng vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau. Như vậy, có thể thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị H xin được ly hôn với anh S là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[4] Về con chung: Chị H và anh S có 02 con chung là cháu Vũ Thị Thuỳ D (2005) và cháu Vũ Văn Đ (2008). Chị H nhận nuôi cả hai con, hai cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ, anh S thống nhất giao con theo ý kiến của hai cháu. Vì vậy, yêu cầu của chị H về việc giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị H và anh S tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Chị H và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào khoản 1 Điều 19, Điều 21, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Vũ Văn S.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Vũ Thị Thuỳ D, sinh ngày 20-9-2005 và cháu Vũ Văn Đ, sinh ngày 30-7-2008 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Chị H và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0007191 ngày 05 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn; chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị H và anh S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đinh Xuân Nhuần Nguyễn Khắc Quyết |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Duy Khoa |
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Duy Khoa |
Bản án số 09/2021/HNGĐ-ST ngày 25/06/2021 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 09/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị H và anh S
