Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 09/2021/HNGĐ-PT

Ngày: 28 - 9 - 2021

V/v ly hôn, tranh chấp

chia tài sản khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Văn Hùng

Các thẩm phán: Ông Võ Minh Tiến

Bà Trịnh Thị Thu Lan

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Thương – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 05/2021/TLPT-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2021, về việc: “Ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện NH bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 70/2021/QĐ-PT ngày 01 tháng 7 năm 2021 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa xét xử số 647/TB-TA ngày 20/9/2021 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà T. T. T. B - sinh năm 1963.
  • Bị đơn: Ông L. H. Đ - sinh năm 1959.

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Phú Vinh Tây, thị trấn C C, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lương Tiêu N. L - sinh năm 1983.
  2. Chị Lương Nữ N. Q - sinh năm 1988.

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Phú Vinh Tây, thị trấn C C, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi.

Người kháng cáo: Ông L. H. Đ – Là bị đơn trong vụ án.

(Bà B, ông Đ có mặt, anh L, chị Q có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 18/6/2020 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà T. T. T. B trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà tự nguyện kết hôn với ông L. H. Đ có đăng ký kết hôn vào ngày 27/4/1983 tại Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) thị trấn C C, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Đ quản lý tài sản, ngoại tình, đánh đập ngược đãi, đối xử tệ bạc với bà. Từ năm 2008, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Đầu năm 2017, bà về nhà cha mẹ đẻ ở xã Hành Minh để tá túc, đến đầu năm 2020 thuê nhà ở cho đến nay. Vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu ly hôn ông Đ.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là anh Lương Tiêu N L - sinh năm 1983 và chị Lương Nữ N. Q - sinh năm 1988. Hiện 02 con đã trưởng thành, lập gia đình riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Vợ chồng có 01 căn nhà xây cấp 4, trị giá 50.000.000 đồng gắn liền với diện tích đất 521,4 m2 thuộc thửa đất số 131, tờ bản đồ số 23 thị trấn C C được UBND huyện NH cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) cho hộ ông Đ vào năm 2015 (viết tắt là thửa 131), trị giá 600.000.000 đồng. Tổng giá trị nhà, đất là 650.000.000 đồng. Khi ly hôn, bà yêu cầu được chia đôi tài sản, bà yêu cầu giao nhà đất cho ông Đ sở hữu, quản lý, sử dụng. Ông Đ phải thanh toán lại ½ giá trị nhà, đất cho bà.

- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng; không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 11/7/2020, bị đơn là ông L. H. Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất như lời trình bày của bà B. Vợ chồng hạnh phúc cho đến thời gian gần đây, bà B không lo việc gia đình mà lấy trộm vàng của ông, đi theo thầy chùa, ăn ở trong chùa rồi yêu cầu ly hôn ông. Ông có khuyên bảo nhưng bà B không nghe, còn có những lời nói hỗn xược với ông. Nay, bà B yêu cầu ly hôn ông, ông không đồng ý vì mâu thuẫn vợ chồng không trầm trọng, ông còn thương yêu bà B và nếu ly hôn, sẽ ảnh hưởng đến con cháu.

- Về con chung: Có 02 con chung như bà B trình bày. Hiện 02 con đã trưởng thành, lập gia đình riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Như bà B trình bày là đúng. Ngoài ra, vợ chồng còn có 100.000.000 đồng và 12 chỉ vàng 9999, hiện bà B đang giữ. Nếu ly hôn, tài sản chung vợ chồng tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng; không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lương Tiêu N L và chị Lương Nữ NQ có văn bản trình bày: Anh, chị là con của bà T. T. T. B, và ông L. H Đ. Nay, cha mẹ ly hôn anh, chị không có ý kiến gì. Về tài sản chung là nhà, đất thuộc thửa 131 là của cha mẹ; anh, chị không có đóng góp gì. Anh, chị yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

* Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện NH đã xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà T. T. T. B được ly hôn ông L. H Đ.
  2. Về tài sản chung: Giao cho ông Đ sở hữu, sử dụng toàn bộ tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với diện tích đất 521m2 thuộc thửa 131, tổng giá trị 1.162.175.000 đồng. Ông Đ phải thanh toán lại ½ giá trị tài sản cho bà B là 581.087.500 đồng.

* Ngày 01/4/2021, bị đơn là ông L. H Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ông không đồng ý ly hôn với bà B; về tài sản, ông yêu cầu Tòa án giao toàn bộ tài sản thuộc thửa đất số 131 cho bà B sở hữu, sử dụng. Bà B phải thanh toán lại cho ông 500.000.000 đồng. Ông đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm hoặc sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B.

Tại phiên tòa, ông Đ đồng ý chia tài sản bằng hiện vật, đề nghị Hội đồng xét xử giao phần đất phía sau cho bà B; ông đồng ý giao 02 xe mô tô cho bà B sở hữu, sử dụng vì ông không có tiền thanh toán giá trị tài sản chênh lệch cho bà B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

[1] Ngày 18/3/2021, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án nêu trên, ông L. H Đ vắng mặt tại phiên tòa. Ngày 24/3/2021, ông Đ nhận được bản án sơ thẩm. Ngày 01/4/2021, ông Đ có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm là trong thời hạn luật định là hợp lệ, được chấp nhận.

[2] Bà T. T. T. B và ông Đ có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C C, huyện NH vào ngày 27/4/1983, nên hôn nhân giữa bà B và ông Đ là hợp pháp.

[3] Bà B và ông Đ đều thừa nhận, sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc và có 02 con chung là anh Lương Tiêu N L - sinh năm 1983 và chị Lương Nữ NQ - sinh năm 1988. Anh Linh và chị Quyên đã trưởng thành và có gia đình riêng.

[4] Theo bà B, khoảng năm 2008 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Đ quản lý, cất giữ toàn bộ tài chính của gia đình, có quan hệ với người phụ nữ khác, về nhà thường xuyên chửi bới, xúc phạm, đánh đập bà. Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân của bà B và ông Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà B là có căn cứ.

[7] Về tài sản chung: Bà B và ông Đ đều thừa nhận, trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có tạo lập được 01 căn nhà cấp 4 gắn liền với diện tích đất 521,4m2 thuộc thửa 131. Nguồn gốc thửa 131 được Nhà nước cấp cho hộ ông Đ vào năm 1988. Tòa án cấp sơ thẩm xác định nhà, đất nêu trên là tài sản chung của ông Đ, bà B là có căn cứ.

[7.3] Tại phiên tòa, bà B và ông Đ đồng ý ngoài giá trị đất, nhà cấp IVB, nhà khác, nhà vệ sinh và nhà tắm, còn các tài sản khác gắn liền với phần đất giao cho người nào, người đó được quyền quản lý, sở hữu, sử dụng; không phải thanh toán giá trị cho nhau. Xét việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, Hội đồng xét xử chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014...

Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của ông L. H Đ.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/HNGĐ-ST ngày 18/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện NH về việc: “Ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn” giữa nguyên đơn là bà T. T. T. B với bị đơn là ông L. H. Đ về phần tài sản chung.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà T. T. T. B được ly hôn ông L. H. Đ.
  2. Về tài sản chung:
    • 2.1. Giao cho ông L. H. Đ được quyền quản lý, sở hữu, sử dụng một ngôi nhà cấp IVB (ký hiệu là g), trị giá 92.262.400 đồng; các công trình phụ... gắn liền với diện tích đất 314,8m2 thuộc một phần thửa 131.
    • 2.2. Giao cho bà T. T. T. B được quyền quản lý, sở hữu, sử dụng phần công trình tạm và 01 phần nhà tắm... gắn liền với diện tích đất 206,2m2 thuộc một phần thửa 131.
    • 2.4. Buộc ông L. H. Đ phải thanh toán lại cho bà T. T. T. B giá trị tài sản chênh lệch với số tiền là 158.872.660 đồng.
  3. Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá, tổng cộng là 11.000.000 đồng. Bà B và ông Đ, mỗi người phải chịu 5.500.000 đồng.
  4. Về án phí: Bà T. T. T. B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và 26.108.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về chia tài sản chung. Ông L. H. Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm về chia tài sản chung.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;

- TAND huyện NH;

- Chi cục THADS huyện NH;

- UBND T.T C C;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ, Toà Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




(Đã ký)


Lương Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2021/HNGĐ-PT ngày 28/09/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 09/2021/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger