|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 09/2021/DS-PT Ngày 24/3/2021 V/v“Tranh chấp giao dịch dân sự” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thúy Hằng
Các Thẩm phán: ông Ngô Văn Thắng và ông Nguyễn Hồng Ánh
Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Hương Huyền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 3 năm 2021, tại hội trường xét xử số 4 - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 77/2020/TLPT-DS ngày 01 tháng 12 năm 2020 về việc: “Tranh chấp giao dịch dân sự”, do Bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2020/DS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXPT– DS ngày 11 tháng 01 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2021/QĐ-PT ngày 03/02/2021 và Thông báo hoãn phiên tòa số: 35/TB-TA ngày 19/02/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: tổ 2, khu 4, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Quang T; địa chỉ: số 46B Ngô Quyền, phường Đ, thành phố T, tỉnh T theo Hợp đồng ủy quyền số: 2069 ngày 17/9/2020, có mặt.
2. Bị đơn:
- Công ty P (viết tắt là Công ty P); trụ sở: khu Bích Nhôi 2, phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện: ông Phạm Văn H– Chức vụ: Giám đốc chi nhánh Công ty P tại Quảng Ninh; địa chỉ: tổ 4, khu 3B, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, là người đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền số: 01/GUQ ngày 03/01/2020, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Đinh Đức T– Luật sư Hãng Luật Trường An Hưng; địa chỉ: số 168, đường N, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ (viết tắt là Công ty Đ); địa chỉ: số 259 đường M, khu B, phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương; địa chỉ chi nhánh Công ty Đ tại Quảng Ninh: tổ 2, khu 4, phường B, thành H, tỉnh Quảng Ninh;
Người đại diện: ông Lê Đình C– Chức vụ: Trưởng ban quản lý dự án Công ty Đ, là người đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền số: 38 -2019/UQ-ĐD ngày 23/7/2019, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (viết tắt là UBND thành phố H); địa chỉ: số 3, Bến Đoan, phường Hồng Gai, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Người đại diện: ông Nguyễn Văn L – Chức vụ: Phó giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố H, là người đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền số: 4726/GUQ ngày 08/6/2020, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (viết tắt là UBND phường B); địa chỉ: số 8, tổ 2A, khu 9A , phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Người đại diện: ông Phạm Tuấn A – Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, là người đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền số: 14A/UQ-UBND ngày 05/02/2020, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ông Vũ Ngọc S; địa chỉ: số 295, khu N, phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt không có lý do.
4. Người làm chứng: ông Vũ Gia H; địa chỉ: số nhà 40, tổ 6, khu 3, phường Bãi C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt không có lý do.
5. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Quang T đều trình bày: Từ năm 1988 đến năm 1997, bà H nhận chuyển nhượng các thửa đất số 27, 40, 59, 61, 62 tổng diện tích 1.820,1m2 tại tổ 10, khu 3, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long. Năm 2003, bà H kê khai 700m2 đất, trong đó có 300m2 đất ở và 400m2 đất vườn, đã nộp thuế, được UBND phường B xác nhận nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2004, đất của bà H trong diện giải phóng mặt bằng của dự án, bị thu hồi, giao cho Xí nghiệp công nghiệp xây dựng số 1 (nay là Công ty P) để thực hiện dự án đầu tư xây dựng kinh doanh hạ tầng khu biệt thự khách sạn phía Tây cầu Bãi Cháy, nhưng chưa bồi thường, tái định cư cho bà H. Từ ngày 16/12/2004 đến ngày 03/3/2005, UBND phường B và các cơ quan liên quan đo vẽ thu hồi giao cho ban giải phóng mặt bằng các thửa đất số 27,40,59,61,62, tổng diện tích 1.820,1m2. Ngày 09/3/2005, ban bồi thường giải phóng mặt bằng lập biên bản thống kê tài sản và cưỡng chế, phá hủy công trình, buộc bà H phải bàn giao mặt bằng. Sau khi cưỡng chế, thu hồi đất, đại diện Công ty P, đã ký biên bản thỏa thuận ngày 27/10/2006, chuyển nhượng cho bà H 01(một) ô đất, không quá 300m2 theo giá Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh cấp cho dự án với điều kiện bà H phải nộp đủ tiền thì mới được giao đất. Ngày 01/10/2008, tại UBND phường B, có ông Phạm Văn H - Phó chủ tịch, chứng kiến đơn vị thi công và đại diện Công ty P đồng ý lập biên bản hỗ trợ cho bà H 40.000.000 đồng tiền di dời và cam kết với bà H, trong thời hạn từ 04 đến 06 tháng sẽ giao cho bà H ô đất như đã thỏa thuận ngày 27/10/2006. Tuy nhiên, từ đó bị đơn chưa giao đất và tiền bồi thường đất bị chiếm dụng cho bà H, bà H cũng không khiếu nại hay yêu cầu gì. Đến tháng 9/2018, khi bà H có đơn gửi đến UBND phường B, Công ty Đ, Công ty P thì được ông Nguyễn Minh N Tổng giám đốc Công ty P trả lời đã chuyển dự án cho Công ty Đ và không giải quyết. Đến nay dự án đã hoàn thành, đang giao bán nhà, chuyển nhượng đất với giá trị lớn, nhưng chủ đầu tư không giao đất và bồi thường do chiếm dụng đất của bà H. Bà H yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết:
Buộc Công ty P và Công ty Đ có trách nhiệm giao cho bà H 300m2 đất ở ngay tại dự án theo như biên bản thỏa thuận ngày 27/10/2006 và ngày 01/10/2008.
Bồi thường giá trị quyền sử dụng đất (300 m2 đất ở và 400m2 đất vườn) cho bà H theo giá thị trường tại thời điểm thanh toán, giá đất tạm tính: đất ở là 10.000.000 đồng/m2 x 300m2 = 3.000.000.000đồng (Ba tỷ đồng); đất vườn là 5.000.000đồng/m2 x 400m2 = 2.000.000.000đồng (Hai tỷ đồng). Tổng cộng là 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng).
Quá trình giải quyết vụ án, bà H rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ còn yêu cầu Công ty P và Công ty Đ phải giao cho bà H 01 (một) ô đất 300m2 tại dự án theo thỏa thuận ngày 27/10/2006 và ngày 01/10/2008.
(... Nội dung lược bỏ để ngắn gọn ...)
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2020/DS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh về phần áp dụng pháp luật.
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 148; Khoản 1 Điều 165; Khoản 2 Điều 244 và Khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm c Khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 163; Điều 181; Điều 121; Khoản 2 Điều 424; Khoản 1 Điều 432 và Khoản 1 Điều 449 của Bộ luật dân sự năm 2005. Điểm đ Khoản 1 Điều 12; Khoản 1 Điều 26 và Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc buộc Công ty P và Công ty TNHH Đức Dương có trách nhiệm giao 300m2 đất ở tại dự án đầu tư, xây dựng, kinh doanh hạ tầng khu biệt thự, khách sạn phía tây cầu Bãi Cháy cho bà Nguyễn Thị H theo biên bản thỏa thuận ngày 27/10/2006 và ngày 01/10/2008.
[2] Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc buộc Công ty P và Công ty TNHH Đức Dương phải bồi thường giá trị quyền sử dụng 400m2 đất vườn và 300m2 đất ở cho bà Nguyễn Thị H. Tổng giá trị cả phần đất vườn và đất ở là 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng).
[3] Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 2.700.000đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Bà H đã nộp đủ số tiền này.
[4] Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị H.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát tỉnh Quảng Ninh; - Tòa án thành phố Hạ Long; - Chi cục THADS thành phố Hạ Long; - Lưu VP; HSVA. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Hằng |
Bản án số 09/2021/DS-PT ngày 24/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh về tranh chấp giao dịch dân sự
- Số bản án: 09/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp giao dịch dân sự
