Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH TƯỜNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/KDTM - ST

Ngày 30 tháng 5 năm 2024

“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phùng Văn Thông, ông Nguyễn Ngọc Triển

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Xuân Chín - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên tòa:

Ông Đặng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2022/TLST – KDTM ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2023/QĐXXST – KDTM ngày 13 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C (V2)

Địa chỉ: Số A, đường T, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B – Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo uỷ quyền:

  • Ông Nguyễn Văn T, Giám đốc V2 chi nhánh B1.
  • Ông Nguyễn Viết P, Phó giám đốc V2, Chi nhánh B1; có mặt.
  • Ông Đỗ Trần Việt H, Phó phòng Tổng hợp V2, Chi nhánh B1; có mặt.

Địa chỉ: Thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần G (Công ty G)

Địa chỉ: Thôn C, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc

Người đại diện theo pháp luật: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1970 - Chủ tịch HĐQT (Theo Giấy CNĐKKD lần 4); ĐKHKTT: Số G, trại H, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; Địa chỉ hiện tại: thôn C, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Công ty TNHH MTV B2

Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hồng S - Giám đốc, vắng mặt

3.2. Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1964, vắng mặt

3.3. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1968, vắng mặt

Đều địa chỉ: Thôn C, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 10 năm 2022; quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP C trình bày:

Ngân hàng TMCP C và Công ty Cổ phần G đã ký Hợp đồng tín dụng số 11.23.0020/HĐTD ngày 16/06/2011 (sửa đổi bổ sung theo Hợp đồng tín dụng số 11.23.0040/HĐTD ngày 10/10/2011 - thay đổi tên doanh nghiệp từ Công ty TNHH MTV G thành Công ty Cổ phần G) với nội dung chính như sau:

Số tiền Ngân hàng cho vay với hạn mức tối đã là: 50.000.000.000 đồng; mục đích vay vốn, bổ sung vốn lưu động phục vụ nhu cầu kinh doanh bột giấy và giấy các loại; phương thức cho vay: hạn mức tín dụng; thời hạn cho vay trên từng giấy nhân nợ: 06 tháng kể từ ngày giải ngân; lãi suất cho vay: áp dụng lãi suất thả nổi, lãi suất tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng là 19,5%/năm; lãi quá hạn = lãi trong hạn + 50%; lãi suất đang áp dụng hiện nay là 13%/năm.

Sau khi giao kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng đã giải ngân cho công ty G nhiều lần, theo các giấy nhân nợ với tổng số tiền 49.929.961.836 đồng, cụ thể như sau:

Ngày 24/6/2011 giải ngân 13.506.642.684 đồng; Ngày 29/6/2011 giải ngân 9.808.338.202 đồng; Ngày 18/8/2011 giải ngân 1.109.770,000 đồng; Ngày 22/8/2011 giải ngân 5.599.163.000 đồng; Ngày 20/9/2011 giải ngân 1.000.114.500 đồng; Ngày 28/9/2011 giải ngân 3.000.074.000 đồng; Ngày 19/10/2011 giải ngân 2.343.033.000 đồng; Ngày 24/11/2011 giải ngân 2.376.990.000 đồng; Ngày 28/11/2011 giải ngân 2.000.444.000 đồng; Ngày 30/11/2011 giải ngân 1.482.442.000 đồng; Ngày 06/12/2011 giải ngân 800.000.000 đồng; Ngày 08/12/2011 giải ngân 600.000.000 đồng; Ngày 24/12/2011 giải ngân 13.600.825.700 đồng; Ngày 26/12/2011 giải ngân 2.694.304.750 đồng.

Tài sản bảo đảm.

Để bảo đảm cho số nợ gốc, lãi tiền vay nêu trên, Công ty Giấy An T2 dùng tài sản thế chấp của Công ty và của bên thứ ba để thế chấp vay vốn tại Ngân hàng, cụ thể như sau:

Tài sản thứ 1: Theo hợp đồng thế chấp số 11.23.0007.11 ngày 23/6/2011 và văn bản sửa đổi bổ sung.

- Dây chuyền thiết bị máy xeo giấy sản xuất giấy KRAPT của Công ty G do Trung Quốc sản xuất (gồm 32 tên thiết bị). Bộ chứng từ hàng nhập khẩu gồm: Hợp đồng mua bán số PFT-ATP/SCM-201001 ngày 09/12/2010; INVOICE số PFT-ATP/SCM-201001 ngày 08/06/2011; Phiếu ghi KQKT hàng hóa; Packing list số PFT-ATP/SCM-201001 ngày 08/06/2011; Tờ khai Hải quan điện tử số 5576 ngày 11/06/2011; Hợp đồng ủy thác nhập khẩu số 01/HĐUT ngày 20/12/2010. Địa chỉ nơi lắp đặt tài sản: Xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tài sản thứ 2: Theo hợp đồng thế chấp số 11.23.0007.10 ngày 01/6/2011 và văn bản sửa đổi bổ sung.

Tài sản gắn liền với đất của công ty G: 01 nhà điều hành diện tích xây dựng khoảng 60m² và toàn bộ vật công trình, vật kiến trúc trên diện tích đất thuê 83.362m2 theo GCN QSD đất số BE 416007, thửa đất số 3, tờ bản đồ số 00 do UBND tỉnh V cấp ngày 28/04/2011, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CT02662; Đ/c thửa đất: Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Địa chỉ tài sản: Xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo kết quả đo đạc mới nhất, thì thửa đất có diện tích 81.091,6m2; đề nghị sử dụng số liệu hiện trạng mới nhất để giải quyết vụ án.

Tài sản thứ 3: Theo hợp đồng thế chấp số 11.23.0007.11 ngày 23/6/2011

QSD đất diện tích 799m² theo GCNQSD đất số AB 805196, thửa đất số 335, tờ bản đồ số PL23 do UBND huyện G, tỉnh Ninh Bình cấp ngày 27/10/2005 và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, đứng tên bà Khổng Thị Thanh H1; Đ/c thửa đất: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

- QSD đất diện tích 478m² theo GCNQSD đất số AP 690350, thửa đất số 367, tờ bản đồ số PL23, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ H00461 do UBND huyện G, tỉnh Ninh Bình cấp ngày 10/06/2009 cấp cho bà Khổng Thị Thanh H1; Đ/c thửa đất xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Địa chỉ 02 tài sản trên: Xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Tài sản thứ 4: Theo hợp đồng thế chấp số 11.23.0007.01 ngày 17/02/2011:

- QSD đất diện tích 529m² theo GCN QSD đất số AB 805195, thửa đất số 334, tờ bản đồ số PL23 do UBND huyện G, tỉnh Ninh Bình cấp ngày 27/10/2005, tài sản trên đất: toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên, đứng tên người sử dụng đất: bà Trần Thị H2; Đ/c thửa đất: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Địa chỉ tài sản: xã G, huyện G, Ninh Bình.

Tài sản thứ 5: Theo hợp đồng thế chấp số 11.23.0007.08 ngày 26/5/2011:

QSD đất diện tích 150m² theo GCN QSD đất số BE 379546, thửa đất số 434, tờ bản đồ số 31, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH 00247 do UBND huyện M, TP . cấp ngày 04/05/2011, Chủ sở hữu Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Thị H3, tài sản trên đất: toàn bộ các tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên. Địa chỉ thửa đất Thôn K, xã V, huyện M, TP Hà Nội; đứng tên người sử dụng đất: hộ ông Nguyễn Văn T3.

Tài sản thứ 6: Theo hợp đồng thế chấp số 11.23.0007.05 ngày 13/04/2011:

QSD đất diện tích 472m2 theo GCN QSD đất số X 283222, thửa đất số 14-2, 16a, tờ bản đồ số 4, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 03386 QSDĐ/1141/QĐ-UB do UBND huyện M, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là UBND huyện M, TP.) cấp ngày 18/12/2002,đứng tên người sử dụng đất: hộ ông Nguyễn Văn T4, tài sản trên đất:

toàn bộ các tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên. Địa chỉ thửa đất: Thôn K, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng,

công ty G mới chỉ thanh toán cho ngân hàng số tiền gốc 2.155.000.000đ, số tiền lãi 3.231.461.917đ. Còn lại chưa thanh toán cho ngân hàng, đã bị áp dụng lãi suất quá hạn. Hiện còn nợ của ngân hàng số tiền 167.261.475.544đ, trong đó: 47.774.961.836 đồng tiền gốc; 80.068.720.446 đồng tiền lãi trong hạn; 39.417.793.259 đồng tiền lãi quá hạn (số liệu tính đến hết ngày 30/5/2024).

Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc nhưng đại diện công ty G không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, gây thiệt hại, ảnh hưởng đến hoạt động thu hồi vốn, kinh doanh của ngân hàng.

Tại phiên tòa, đại diện V2 đề nghị:

  1. Buộc công ty G phải thanh toán, trả cho V2 số tiền gốc và lãi là 167.261.475.544đ, trong đó: 47.774.961.836 đồng tiền gốc; 80.068.720.446 đồng tiền lãi trong hạn; 39.417.793.259 đồng tiền lãi quá hạn (số liệu tính đến hết ngày 30/5/2024).
  2. Từ ngày 31/5/2024 công ty G phải tiếp tục thanh toán, trả cho V2 số tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc, lãi suất áp dụng là 19,5%/01 năm.
  3. Trường hợp Công ty G1 nghĩa vụ thanh toán, thì V2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi hoàn nợ, tài sản bảm đảm được quyền yêu cầu phát mại gồm:

Tài sản 1: Dây chuyền thiết bị máy xeo giấy sản xuất giấy KRAPT của Công ty G do Trung Quốc sản xuất (gồm 32 tên thiết bị). Bộ chứng từ hàng nhập khẩu gồm: Hợp đồng mua bán số PFT-ATP/SCM-201001 ngày 09/12/2010; INVOICE số PFT-ATP/SCM-201001 ngày 08/06/2011; Phiếu ghi KQKT hàng hóa; Packing list số PFT-ATP/SCM-201001 ngày 08/06/2011; Tờ khai Hải quan điện tử số 5576 ngày 11/06/2011; Hợp đồng ủy thác nhập khẩu số 01/HĐUT ngày 20/12/2010. Địa chỉ nơi lắp đặt tài sản: Xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tài sản thứ 2: Tài sản gắn liền với đất của công ty G: 01 nhà điều hành diện tích xây dựng khoảng 60m² và toàn bộ vật công trình, vật kiến trúc trên diện tích đất thuê 81.091,6m2 theo GCN QSD đất số BE 416007, thửa đất số 3, tờ bản đồ số 00 do UBND tỉnh V cấp ngày 28/04/2011, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CT02662; Đ/c thửa đất: Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Địa chỉ tài sản: Xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đãm mà vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ thanh toán, thì Công ty G vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán, cho đến khi xong toàn bộ.

- Đối với các tài sản đã thế chấp thứ 3, thứ 4, thứ 5, thứ 6 (đã trình bày ở trên) của các cá nhân, tổ chức thứ ba thế chấp, bảo lãnh cho khoản vay của công ty G. V2 không yêu cầu giải quyết trong vụ án; nếu sau này không thu hồi đủ khoản nợ, sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.

Đối với nội dung: Tại mục ghi chú của hợp đồng thế chấp, các bên còn thỏa thuận tài sản bảo đảm nêu trên, ngoài bảo đảm cho các khoản vay của công ty G, còn bảo đảm cho các khoản vay khác, tại các chi nhánh khác của V2, nếu có (trong đó có khoản vay của công ty B2); V2 không yêu cầu giải quyết.

3. Đối với tài sản là các lán chuồng bò, lán lợp mái bloximang là do vợ chồng ông Phạm Văn T1, Nguyễn Thị K tự ý xây dựng trên diện tích đất mà công ty G đã thế chấp, đề nghị buộc tháo dỡ.

4. Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, V2 đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc là 15.000.000đ. Đề nghị công ty G phải hoàn trả cho Vietinbank

5. Về án phí: Đề nghị công ty G chịu nộp.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn – Công ty G là bà Huỳnh Thị L vắng mặt tại phiên tòa:

Mặc dù đã được thông báo, tống đạt hợp lệ các thông báo, quyết định tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Nhưng đều không chấp hành, vắng mặt không có lý do. Do vậy, HĐXX căn cứ lời khai của những đương sự khác và các tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án để giải quyết nội dung vụ án theo quy định.

Tuy nhiên tại đăng ký kinh doanh lần thứ 4, ngày 18/3/2020 bà L mới trở thành người đại diện theo pháp luật của công ty G; trước thời điểm này, tại thời điểm giao kết hợp đồng tín dụng, thì người đại diện theo pháp luật của công ty G là ông Nguyễn Văn S1; tại văn bản lời khai ngày 09/11/2022 ông S1 thừa nhận: giữa Công ty G và Ngân hàng TMCP C ký các hợp đồng tín dụng như người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình trình bày.

Để bảo đảm cho khoản vay trên Công ty G đã thế chấp toàn bộ dây chuyền máy móc và tài sản bằng các hợp đồng thế chấp mà người đại diện cho nguyên đơn đã nêu trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng phía Ngân hàng đã thực hiện việc giải ngân cho Công ty Giấy An Tường theo đúng tiến độ, Công ty cũng sử dụng vốn vay đúng mục đích và trả lãi theo đúng thỏa thuận cho Ngân hàng TMCP C. Tuy nhiên tình hình kinh doanh của Công ty gặp nhiều khó khăn dẫn đến chưa có khả năng thanh toán các khoản tín dụng đến hạn của Ngân hàng.

Nay Ngân hàng TMCP C khởi kiện yêu cầu Công ty G phải thanh toán khoản vay theo 02 hợp đồng tín dụng nêu trên và tiền lãi phát sinh; Nếu Công ty Giấy An Tường không trả được nợ, đề nghị xử lý tài sản thế chấp như đã nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Quan điểm của Công ty G thừa nhận toàn bộ nội dung này. Tuy nhiên Công ty G đề nghị Ngân hàng TMCP C cho Công ty G tự bán tài sản thế chấp để trả nợ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đại diện công ty TNHH MTV B2 – ông Nguyễn Hồng S vắng mặt tại phiên tòa,

nhưng trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Quá trình sản suất kinh doanh, có vay vốn của ngân hàng; công ty G có dùng tài sản là các dây truyền sản suất để bảo lãnh cho các khoản vay của công ty B2; tuy nhiên, đến nay các khoản vay trên về cơ bản đã thực hiện xong, công ty B2 không đề nghị giải quyết trong vụ án nội dung bảo lãnh thế chấp.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn T1, bà Nguyễn Thị K:

Vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: ông bà là vợ chồng, ông T1 làm nhân viên bảo vệ cho công ty G. Quá trình trông coi công ty, đã tự ý xây dựng một số công trình tạm thời trên đất của công ty G gồm 01 lán chuồng Bò diện tích 178m2; 01 gian lán cột sắt, lợp bloximang diện tích 17m2; 01 gian lán cột sắt, lợp bloximang diện tích 10,6m2; 01 gian lán xây tường, lợp bloximang diện tích 17m2. Ông bà tự nguyện tháo dỡ để bàn giao trả mặt bằng cho ông ty giấy An T2 hoặc bên thứ ba có quyền đối với diện tích đất.

* Trong vụ án này, ông Nguyễn Văn H4 có lời trình bày: Diện tích đất của công ty G đang sử dụng, có 822 m2 đất nông nghiệp (gồm cả đất khai hoang) là của ông đã bị thu hồi giao cho công ty G; nhưng UBND huyện V vẫn chưa trả đủ tiền cho ông. Tuy nhiên, các bên không đề nghị giải quyết, nội dung cũng không liên quan đến vụ án nên HĐXX không đề cập xem xét trong vụ án, không đưa các bên vào tham gia tố tụng.

Kiểm sát viên phát biểu và có quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 147, Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; các 317, 319, 320, 321, 322, 323, 463, 466, 468, 357 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 91; Điều 95; Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010. Các Điều 166,167,179, 189 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP C đối với Công ty G.

  1. Buộc công ty G phải thanh toán, trả cho V2 số tiền gốc và lãi là 167.261.475.544đ, trong đó: 47.774.961.836 đồng tiền gốc; 80.068.720.446 đồng tiền lãi trong hạn; 39.417.793.259 đồng tiền lãi quá hạn (số liệu tính đến hết ngày 30/5/2024).
  2. Từ ngày 31/5/2024 công ty G phải tiếp tục thanh toán, trả cho V2 số tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc, lãi suất áp dụng là 19,5%/01 năm.
  3. Trường hợp Công ty G1 nghĩa vụ thanh toán, thì V2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi hoàn nợ, tài sản bảm đảm được quyền yêu cầu phát mại gồm:

Tài sản 1: Dây chuyền thiết bị máy xeo giấy sản xuất giấy KRAPT của Công ty G do Trung Quốc sản xuất (gồm 32 tên thiết bị). Bộ chứng từ hàng nhập khẩu gồm:

Hợp đồng mua bán số PFT-ATP/SCM-201001 ngày 09/12/2010; INVOICE số PFT-ATP/SCM-201001 ngày 08/06/2011; Phiếu ghi KQKT hàng hóa; Packing list số PFT-ATP/SCM-201001 ngày 08/06/2011; Tờ khai Hải quan điện tử số 5576 ngày 11/06/2011; Hợp đồng ủy thác nhập khẩu số 01/HĐUT ngày 20/12/2010. Địa chỉ nơi lắp đặt tài sản: Xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tài sản thứ 2: Tài sản gắn liền với đất của công ty G: 01 nhà điều hành diện tích xây dựng khoảng 60m² và toàn bộ vật công trình, vật kiến trúc trên diện tích đất thuê 81.091,6m2 theo GCN QSD đất số BE 416007, thửa đất số 3, tờ bản đồ số 00 do UBND tỉnh V cấp ngày 28/04/2011, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CT02662; Đ/c thửa đất: Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Địa chỉ tài sản: Xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đãm mà vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ thanh toán, thì Công ty G vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán, cho đến khi xong toàn bộ.

- Đối với các tài sản đã thế chấp thứ 3, thứ 4, thứ 5, thứ 6 (V2 đã trình bày ở trên) của các cá nhân, tổ chức thứ ba thế chấp, bảo lãnh cho khoản vay của công ty G, do V không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị HĐXX giải quyết.

3. Đối với tài sản vợ chồng ông Phạm Văn T1, Nguyễn Thị K tự ý xây dựng trên đất của công ty G, đề nghị buộc ông bà phải tháo dỡ.

4. Về chi phí tố tụng và án phí: Đề nghị các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: V2 khởi kiện Công ty G về việc buộc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản bảo đảm; bị đơn và tài sản thế chấp có địa chỉ tại xã A, huyện V; nội dung giao dịch tín dụng phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều vì mục đích lợi nhuận. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Người đại diện theo pháp luật của Công ty G là bà Huỳnh Thị L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn T1, bà Nguyễn Thị K; người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV B2 đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng nhiều lần vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp:

[2.1] Về hợp đồng tín dụng: Giữa Ngân hàng TMCP C và Công ty Cổ phần G (chuyển đổi từ từ Công ty TNHH MTV G) có giao kết với nhau 02 hợp đồng

tín dụng đó là Hợp đồng tín dụng số 11.23.0020/HĐTD ngày 16/06/2011 và Hợp đồng tín dụng số 11.23.0040/HĐTD ngày 10/10/2011 với nội dung: Số tiền Ngân hàng cho vay với hạn mức tối đa là: 50.000.000.000 đồng; mục đích vay vốn, bổ sung vốn lưu động phục vụ nhu cầu kinh doanh bột giấy và giấy các loại; phương thức cho vay: hạn mức tín dụng; thời hạn cho vay trên từng giấy nhân nợ: 06 tháng kể từ ngày giải ngân; lãi suất cho vay: áp dụng lãi suất thả nổi, lãi suất tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng là 19,5%/năm; lãi quá hạn = lãi trong hạn + 50%; lãi suất đang áp dụng hiện nay là 13%/năm.

Việc giao hợp đồng tín dụng các bên tham gia ký kết đều có năng lực hành vi dân sự, việc ký kết trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc lừa dối, các điều khoản trong hợp đồng không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015. Hợp đồng được lập thành văn bản các bên đều tự nguyện ký kết đóng dấu về nội dung và hình thức đều hợp pháp nên phát sinh hiệu lực đối với các bên tham gia.

Sau khi giao kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng đã giải ngân cho công ty G nhiều lần, theo các giấy nhận nợ với tổng số tiền 49.929.961.836 đồng, cụ thể như sau:

Ngày 24/6/2011 giải ngân 13.506.642.684 đồng; Ngày 29/6/2011 giải ngân 9.808.338.202 đồng; Ngày 18/8/2011 giải ngân 1.109.770,000 đồng; Ngày 22/8/2011 giải ngân 5.599.163.000 đồng; Ngày 20/9/2011 giải ngân 1.000.114.500 đồng; Ngày 28/9/2011 giải ngân 3.000.074.000 đồng; Ngày 19/10/2011 giải ngân 2.343.033.000 đồng; Ngày 24/11/2011 giải ngân 2.376.990.000 đồng; Ngày 28/11/2011 giải ngân 2.000.444.000 đồng; Ngày 30/11/2011 giải ngân 1.482.442.000 đồng; Ngày 06/12/2011 giải ngân 800.000.000 đồng; Ngày 08/12/2011 giải ngân 600.000.000 đồng; Ngày 24/12/2011 giải ngân 13.600.825.700 đồng; Ngày 26/12/2011 giải ngân 2.694.304.750 đồng.

2.2 Việc thực hiện hợp đồng tín dụng: Sau khi được V2 giải ngân số tiền vay như đã nêu ở trên, công ty G đã sử dụng vốn vào đúng mục đích sản suất, kinh doanh. Tuy nhiên, công ty G đã vi phạm nghĩa vụ về số tiền và thời hạn thanh toán, theo đó: Công ty mới chỉ thanh toán cho ngân hàng số tiền gốc 2.155.000.000đ, số tiền lãi 3.231.461.917đ. Còn lại chưa thanh toán cho ngân hàng, đã bị áp dụng lãi suất quá hạn. Hiện còn nợ của ngân hàng số tiền 167.261.475.544đ, trong đó: 47.774.961.836 đồng tiền gốc; 80.068.720.446 đồng tiền lãi trong hạn; 39.417.793.259 đồng tiền lãi quá hạn (số liệu tính đến hết ngày 30/5/2024).

Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc nhưng đại diện công ty G không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, gây thiệt hại, ảnh hưởng đến hoạt động thu hồi vốn, kinh doanh của ngân hàng. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V2 về việc buộc thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi.

Lãi suất trong hạn áp dụng tại thời điểm xét xử là 13%/01 năm; lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn; do vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V2

về việc từ ngày 31/5/2024 công ty G phải trả cho V2 tiền lãi trên dư nợ gốc chưa thanh toán, lãi suất là 19,5%/01 năm.

[2.3] Về hợp đồng thế chấp và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:

Để bảo đảm cho số nợ gốc, lãi tiền vay nêu trên, Công ty Giấy An T2 dùng tài sản thế chấp của Công ty và của bên thứ ba để thế chấp vay vốn tại Ngân hàng, cụ thể như sau:

Tài sản thứ 1: Theo hợp đồng thế chấp số 11.23.0007.11 ngày 23/6/2011 và văn bản sửa đổi bổ sung.

- Dây chuyền thiết bị máy xeo giấy sản xuất giấy KRAPT của Công ty G do Trung Quốc sản xuất (gồm 32 tên thiết bị). Bộ chứng từ hàng nhập khẩu gồm: Hợp đồng mua bán số PFT-ATP/SCM-201001 ngày 09/12/2010; INVOICE số PFT-ATP/SCM-201001 ngày 08/06/2011; Phiếu ghi KQKT hàng hóa; Packing list số PFT-ATP/SCM-201001 ngày 08/06/2011; Tờ khai Hải quan điện tử số 5576 ngày 11/06/2011; Hợp đồng ủy thác nhập khẩu số 01/HĐUT ngày 20/12/2010. Địa chỉ nơi lắp đặt tài sản: Xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tài sản thứ 2: Theo hợp đồng thế chấp số 11.23.0007.10 ngày 01/6/2011 và văn bản sửa đổi bổ sung.

- Tài sản gắn liền với đất của công ty G: 01 nhà điều hành diện tích xây dựng khoảng 60m² và toàn bộ vật công trình, vật kiến trúc trên diện tích đất thuê 83.362m2 theo GCN QSD đất số BE 416007, thửa đất số 3, tờ bản đồ số 00 do UBND tỉnh V cấp ngày 28/04/2011, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CT02662; Đ/c thửa đất: Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Địa chỉ tài sản: Xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo kết quả đo đạc mới nhất, thì thửa đất có diện tích 81.091,6m2; đề nghị sử dụng số liệu hiện trạng mới nhất để giải quyết vụ án.

Tài sản thứ 3: Theo hợp đồng thế chấp số 11.23.0007.11 ngày 23/6/2011

- QSD đất diện tích 799m² theo GCNQSD đất số AB 805196, thửa đất số 335, tờ bản đồ số PL23 do UBND huyện G, tỉnh Ninh Bình cấp ngày 27/10/2005 và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, đứng tên bà Khổng Thị Thanh H1; Đ/c thửa đất: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

- QSD đất diện tích 478m² theo GCNQSD đất số AP 690350, thửa đất số 367, tờ bản đồ số PL23, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ H00461 do UBND huyện G, tỉnh Ninh Bình cấp ngày 10/06/2009 cấp cho bà Khổng Thị Thanh H1; Đ/c thửa đất xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Địa chỉ 02 tài sản trên: Xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Tài sản thứ 4: Theo hợp đồng thế chấp số 11.23.0007.01 ngày 17/02/2011:

- QSD đất diện tích 529m² theo GCN QSD đất số AB 805195, thửa đất số 334, tờ bản đồ số PL23 do UBND huyện G, tỉnh Ninh Bình cấp ngày 27/10/2005, tài sản trên đất: toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên, đứng tên người sử dụng đất: bà Trần Thị H2; Đ/c thửa đất: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Địa chỉ tài sản: xã G, huyện G, Ninh Bình.

Tài sản thứ 5: Theo hợp đồng thế chấp số 11.23.0007.08 ngày 26/5/2011:

- QSD đất diện tích 150m² theo GCN QSD đất số BE 379546, thửa đất số 434, tờ bản đồ số 31, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH 00247 do UBND huyện M, TP . cấp ngày 04/05/2011, Chủ sở hữu Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Thị H3, tài sản trên đất: toàn bộ các tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên. Địa chỉ thửa đất Thôn K, xã V, huyện M, TP Hà Nội; đứng tên người sử dụng đất: hộ ông Nguyễn Văn T3.

Tài sản thứ 6: Theo hợp đồng thế chấp số 11.23.0007.05 ngày 13/04/2011:

QSD đất diện tích 472m2 theo GCN QSD đất số X 283222, thửa đất số 14-2, 16a, tờ bản đồ số 4, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 03386 QSDĐ/1141/QĐ-UB do UBND huyện M, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là UBND huyện M, TP .) cấp ngày 18/12/2002,đứng tên người sử dụng đất: hộ ông Nguyễn Văn T4, tài sản trên đất: toàn bộ các tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên. Địa chỉ thửa đất: Thôn K, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội.

Xét thấy các hợp đồng thế chấp này đều được lập thành văn bản, có công chứng, các chủ thể tham gia ký hợp đồng thế chấp có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các bên giao kết tự nguyện về nội dung và hình thức đều hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện V2 đề nghị xử lý tài sản bảo đảm:

2.3.1 Trường hợp Công ty G1 nghĩa vụ thanh toán, thì V2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi hoàn nợ, tài sản bảm đảm được quyền yêu cầu phát mại gồm: Tài sản 1: Dây chuyền thiết bị máy xeo giấy sản xuất giấy KRAPT của Công ty G do Trung Quốc sản xuất (gồm 32 tên thiết bị) và Tài sản thứ 2: Tài sản gắn liền với đất của công ty G: 01 nhà điều hành diện tích xây dựng khoảng 60m² và toàn bộ vật công trình, vật kiến trúc trên diện tích đất thuê 81.091,6m2; Đ/c thửa đất: Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Địa chỉ tài sản: Xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đãm mà vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ thanh toán, thì Công ty G vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán, cho đến khi xong toàn bộ.

Yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của V1 là phù hợp, được HĐXX chấp nhận.

- Đối với các tài sản đã thế chấp thứ 3, thứ 4, thứ 5, thứ 6 (đã trình bày ở trên) của các cá nhân, tổ chức thứ ba thế chấp, bảo lãnh cho khoản vay của công ty G. V2 không yêu cầu giải quyết trong vụ án; nếu sau này không thu hồi đủ khoản nợ, sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác. Do vậy, HĐXX không xem xét giải quyết đối với nội dung này.

2.3.2 Đối với nội dung: Tại mục ghi chú của hợp đồng thế chấp, các bên còn thỏa thuận tài sản bảo đảm nêu trên, ngoài bảo đảm cho các khoản vay của công ty G, còn bảo đảm cho các khoản vay khác, tại các chi nhánh khác của V2, nếu có

(trong đó có khoản vay của công ty B2); V2 và các bên không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[3] Về nội dung vợ chồng ông Phạm Văn T1, bà Nguyễn Thị K là nhân viên bảo vệ cho công ty G. Quá trình trông coi công ty, đã tự ý xây dựng một số công trình tạm thời trên đất của công ty G gồm 01 lán chuồng Bò diện tích 178m2; 01 gian lán cột sắt, lợp bloximang diện tích 17m2; 01 gian lán cột sắt, lợp bloximang diện tích 10,6m2; 01 gian lán xây tường, lợp bloximang diện tích 17m2. Ông bà tự nguyện tháo dỡ để bàn giao trả mặt bằng cho ông ty giấy An T2 hoặc bên thứ ba có quyền đối với diện tích đất. Do vậy, HĐXX cần buộc ông, bà tháo dỡ để V2 có thể yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí Kinh doanh thương mại: Công ty G phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại. Ngân hàng TMCP C không phải chịu án phí, hoàn trả Ngân hàng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vợ chồng ông Phạm Văn T1, bà Nguyễn Thị K phải tháo dỡ công trình trên đất, nên phải liên đới chịu nộp án phí sơ thẩm (trường hợp án phí không có giá ngạch).

[7] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã nộp tạm ứng 15.000.000đ tiền chi phí thẩm định, nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả lại số tiền này cho nguyên đơn, xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 147, Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 317, 319, 320, 321, 322, 323, 463, 466, 468, 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Các Điều 91; Điều 95; Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010. Các Điều 166, 167, 179, 189 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C về việc buộc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của hợp đồng tín dụng và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:

1.1 Buộc công ty cổ phần G phải thanh toán, trả cho V2 số tiền gốc và lãi là 167.261.475.544đ, trong đó: 47.774.961.836 đồng tiền gốc; 80.068.720.446 đồng tiền lãi trong hạn; 39.417.793.259 đồng tiền lãi quá hạn (số liệu tính đến hết ngày 30/5/2024).

Từ ngày 31/5/2024 công ty G phải tiếp tục thanh toán, trả cho V2 số tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc, lãi suất áp dụng là 19,5%/01 năm.

1.2. Trường hợp công ty cổ phần G1 nghĩa vụ thanh toán, thì V2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ, tài sản bảm đảm được quyền yêu cầu phát mại gồm:

Tài sản 1: Dây chuyền thiết bị máy xeo giấy sản xuất giấy KRAPT của Công ty G do Trung Quốc sản xuất (gồm 32 tên thiết bị). Bộ chứng từ hàng nhập khẩu gồm: Hợp đồng mua bán số PFT-ATP/SCM-201001 ngày 09/12/2010; INVOICE số

PFT-ATP/SCM-201001 ngày 08/06/2011; Phiếu ghi KQKT hàng hóa; Packing list số PFT-ATP/SCM-201001 ngày 08/06/2011; Tờ khai Hải quan điện tử số 5576 ngày 11/06/2011; Hợp đồng ủy thác nhập khẩu số 01/HĐUT ngày 20/12/2010. Địa chỉ nơi lắp đặt tài sản: Xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tài sản thứ 2: Tài sản gắn liền với đất của công ty G: 01 nhà điều hành diện tích xây dựng khoảng 60m² và toàn bộ vật công trình, vật kiến trúc trên diện tích đất thuê 81.091,6m2 (GCN QSD đất số BE 416007, thửa đất số 3, tờ bản đồ số 00 do UBND tỉnh V cấp ngày 28/04/2011, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CT02662); Đ/c thửa đất: Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (có sơ đồ đất kèm theo).

Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đãm mà vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ thanh toán, thì Công ty G vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán, cho đến khi xong toàn bộ.

2. Buộc vợ chồng ông Phạm Văn T1, bà Nguyễn Thị K phải liên đới thực hiện nghĩa vụ tháo dỡ các công trình trên đất gồm: 01 lán chuồng Bò diện tích 178m2; 01 gian lán cột sắt, lợp bloximang diện tích 17m2; 01 gian lán cột sắt, lợp bloximang diện tích 10,6m2; 01 gian lán xây tường, lợp bloximang diện tích 17m2 (có kí hiệu vị trí, diện tích trên sơ đồ đất kèm theo).

4. Về chi phí tố tụng: Công ty cổ phần G phải hoàn trả Ngân hàng TMCP C số tiền 15.000.000đ (tiền chi phí xem xét, thẩm định tài sản).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, và V2 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu công ty G không thanh toán đủ số tiền 15.000.000đ thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.

5. Về án phí kinh doanh thương mại:

Buộc Công ty cổ phần G phải chịu 275.261.000đ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm

Hoàn trả Ngân hàng TMCP C 114.383.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005672 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

7. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát huyện Vĩnh Tường;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường;
  • - Các đương sự trong vụ án;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

Đỗ Thành Công

13

14

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/KDTM - ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 08/2024/KDTM - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger