|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2024/DS-ST.
Ngày: 28 - 6 - 2024.
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Tiến Thịnh và bà Chu Thị Hồng Nhật.
-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 11/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024, về: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:12/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 25/2024/QÐST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (tên viết tắt S1).
Địa chỉ trụ sở: Lầu H, 2 N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đăng D1 – Giám đốc chi nhánh T1.
(Theo Quyết định v/v ủy quyền ký kết hợp đồng/thỏa thuận, văn bản và tham gia tố tụng, số 3270/2022/QĐ-PL ngày 26/12/2022 của Tổng Giám đốc).
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Phan Thanh L – Phó phòng Kiểm soát rủi ro chi nhánh T1, (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ liên hệ: Số B, đường T, tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
(Theo Giấy ủy quyền số 11/2023/GUQ-CNTBI ngày 30/10/2023 của Giám đốc chi nhánh T1).
2. Bị đơn: Chị Lê Hằng N, sinh năm 1997, (vắng mặt).
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Hiện không có mặt tại địa phương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S, người đại diện theo ủy quyền lại ông Phan Thanh L trình bày và có yêu cầu như sau:
Ngày 17/01/2022, S1 chi nhánh T1 và chị Lê Hằng N ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng kèm theo bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng (gọi là Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng). Ngân hàng cấp thẻ tín dụng cho chị N với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Lãi suất tại thời điểm cấp thẻ 31,2%/năm, tương đương 2,6%/tháng. Ngày chốt giao dịch là ngày mùng 10 hàng tháng. Ngày 21/01/2022, chị N nhận thẻ tín dụng số thẻ 472074 - 5201, số tài khoản thẻ 3256324041. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, chị N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 105.871.520 đồng, đến ngày 10/4/2023 chị N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi là 93.431.331 đồng.
Quá trình sử dụng thẻ tín dụng và thanh toán thẻ tín dụng, chị N phải tuân thủ theo quy định của Ngân hàng được quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của S1. Từ ngày 01/11/2022, S1 áp dụng mức lãi suất 33,2%/năm tương đương 2,766%/tháng đối với thẻ tín dụng của chị N (theo Quyết định số 2261/2022/QĐ-TTT ngày 28/10/2022 về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S1 phát hành), việc áp dụng lãi suất mới theo quy định tại điểm 23.2 của Điều 23, cách tính lãi thực hiện theo quy định của bản Điều khoản và điều kiện: “23.2. S1 có quyền sửa đổi mức lãi suất trong từng thời kỳ theo quyết định của mình mà không cần thông báo trước cho Chủ T”.
Tóm tắt quá trình sử dụng thẻ từ ngày 21/01/2022 đến ngày 28/6/2024: Tổng số tiền chị N giao dịch: 105.871.520 đồng, tổng số tiền phí trễ hạn phát sinh: 986.908 đồng, tổng số tiền lãi phát sinh (bao gồm cả lãi quá hạn): 22.159.100 đồng, phí : 448.500 đồng, tổng số tiền thanh toán: 93.431.331 đồng. (Vì, dư nợ cuối kỳ = dư nợ đầu kỳ + phát sinh trong kỳ + phí + lãi - số tiền đã thanh toán), do đó, tổng dư nợ từ ngày 21/01/2022 đến ngày xét xử 28/6/2024 = 105.871.520 + 986.908 + 22.159.100 + 448.500 - 93.431.331 = 36.034.697 đồng.
Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Các kỳ thanh toán từ 10/03/2022 đến 10/08/2023, chị N phải chịu các khoản lãi trong hạn theo quy định tại Điều 23. Từ 11/8/2023 đến nay chị N phải chịu lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn quy định tại điểm b điều 24.4. Do chị N không thanh thanh toán 3 kỳ liên tiếp nên Ngân hàng đã chấm dứt hoạt động thẻ và áp dụng lãi suất quá hạn trên toàn bộ dư nợ tại thời điểm này. Chị N phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 25 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt. Gồm: Phí thường niên và phí phát hành thẻ, phí rút tiền mặt, phí thay đổi hạn mức, phí chậm thanh toán,... các loại phí khác theo quy định của S1 trong từng thời kỳ.
Quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ 21/01/2022 đến ngày 10/04/2023 chị N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 93.431.331 đồng. Tổng số tiền trên được áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Quá trình thanh toán nợ vay, chị N vi phạm nghĩa vụ thanh toán 3 kỳ liên tiếp từ kỳ chốt thông báo giao dịch ngày 10/05/2023 đến kỳ chốt thông báo giao dịch ngày 10/08/2023 (vi phạm Điều 18 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên tại ngày chốt thông báo giao dịch ngày 10/08/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 24.907.993 đồng để áp dụng lãi suất nợ quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại. Như vậy, từ thời điểm khách hàng vi phạm đến trước khi chuyển nợ nhóm 3, Ngân hàng có quyền chỉ áp dụng lãi suất trong hạn để hỗ trợ khách hàng, từ khi khách hàng chuyển nợ nhóm 3, Ngân hàng mới áp dụng mức lãi suất quá hạn 150% trên lãi trong hạn (gọi dư nợ áp dụng lãi suất quá hạn này là nợ gốc).
Số tiền lãi quá hạn được tính trên số dư nợ tại thời điểm chấm dứt sử dụng thẻ (thời điểm chuyển nợ xấu - Ngân hàng đã xin được gọi là Nợ G) với số tiền là 24.907.993 đồng với lãi suất quá hạn là 4,149%/tháng (2,766% * 150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến ngày chị N thanh toán tiếp theo và lãi tiếp tục phát sinh trên dư nợ gốc còn lại.
Lãi quá hạn: 11.126.704 đồng (gồm lãi từ ngày 11/08/2023 đến ngày 28/6/2024) theo công thức tính tổng quát như sau: Lãi quá hạn = (dư nợ áp dụng lãi suất quá hạn x lãi suất quá hạn (%/tháng)/30 x số ngày quá hạn. Lãi 1 ngày là: 24.907.993 x 4.149% /30 = 34.448 đồng. Số ngày quá hạn từ ngày 11/8/2023 đến ngày 28/6/2024 là 323 ngày nên số tiền lãi quá hạn phát sinh từ ngày 11/08/2023 đến 28/6/2024 = 34.448 đồng x 323 ngày = 11.126.704 đồng
Mặc dù Ngân hàng đã đôn đốc nợ, tuy nhiên chị N vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng đề nghị Tòa án:
- Buộc chị N phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày xét xử 28/6/2024 là 36.034.697 đồng, trong đó: Nợ gốc (dư nợ áp dụng lãi suất quá hạn): 24.907.993 đồng, nợ lãi quá hạn:11.126.704 đồng.
- Chị N có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh trên số dư nợ gốc (dư nợ áp dụng lãi suất quá hạn) kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử ngày 29/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký kết.
- Buộc chị N phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ án phí và các chi phí phát sinh liên quan trong quá trình tố tụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Bị đơn chị Lê Hằng N đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng dân sự của Toà án cùng đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn và Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng dân sự nơi chị N đăng ký hộ khẩu thường trú là tổ A và UBND phường B, thành phố T nhưng chị N vẫn vắng mặt, không đến tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ; không nộp văn bản ghi ý kiến, quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Tòa án không thu thập được ý kiến, quan điểm của chị N đối với yêu cầu khởi kiện của S1 và các tài liệu, chứng cứ kèm theo.
* Tại Biên bản xác minh ngày 10/4/2024, Công an phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình cung cấp: Chị Lê Hằng N, sinh năm 1997, đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở trước khi bỏ đi: Tổ E, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Hiện tại chị N không có mặt tại địa phương.
* Tại Biên bản xác minh ngày 21/5/2024, đại diện tổ dân phố số A, phường B và UBND phường B, thành phố T cung cấp: Chị Lê Hằng N, sinh năm 1997, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình nhưng hiện nay chị Lê Hằng N không sinh sống tại địa phương, không có tên trong danh sách những người cư trú tại tổ A, phường B. Hiện chị N đang làm gì, ở đâu địa phương tổ 12 không biết do chị N không báo cáo. Gia đình chị N không sinh sống tại địa phương.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến giải quyết vụ án:
1. Về thủ tục tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại các Điều: 26, 35, 39, 68, khoản 2 Điều 96, các Điều: 97, 98, 173, 175, 177, 178, 179, 191, 196, khoản 1 Điều 203, các Điều: 208, 209, 210, 211, 220 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Bị đơn thực hiện chưa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về đường lối giải quyết vụ án:
2.1. Về thời hiệu khởi kiện: Đảm bảo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự.
2.2. Về nội dung: Ngân hàng yêu cầu chị N phải trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng là có căn cứ. Đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 280, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, tuyên:
- Buộc chị Lê Hằng N phải trả toàn bộ các khoản nợ gốc, lãi quá hạn cho Ngân hàng TMCP S, số tiền tính đến ngày xét xử 28/6/2024 là36.034.697 đồng, trong đó: Nợ gốc: 24.907.993 đồng; lãi quá hạn:11.126.704 đồng
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 29/6/2024, chị Lê Hằng N có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký kết.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị Lê Hằng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Trả lại S1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án thấy là phù hợp pháp luật nên cần xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nguyên đơn khởi kiện về tranh chấp hợp đồng tín dụng (vay tiêu dùng). Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.
[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ký kết ngày 17/01/2022, giữa S1 chi nhánh T1 với chị Lê Hằng N, theo đó Ngân hàng cho chị N vay số tiền 30.000.000 đồng mục đích để tiêu dùng cá nhân. Do chị N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện vụ án dân sự. Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.3] Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn có mặt, tại phiên toà đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn vắng mặt có lý do. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ cũng như niêm yết công khai các văn bản tố tụng dân sự nhưng bị đơn không tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, không nộp văn bản ghi ý kiến, quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[2.1] Theo lời khai và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp thấy là ngày 17/01/2022, S1 chi nhánh T1 và chị N có ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bao gồm bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng (sau đây gọi chung là Hợp đồng tín dụng). Việc ký kết trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận. Hợp đồng quy định các điều, khoản rõ ràng, chi tiết như: Hạn mức tín dụng, thông tin loại thẻ, thời hạn vay, mục đích vay, lãi suất, các loại phí, ngày chốt giai dịch, quyền và nghĩa vụ của các bên, .... Cho thấy, nội dung của Hợp đồng này bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ hiện tại và trong tương lai của các bên; khi lập hợp đồng S1 chi nhánh T1 và chị N thể hiện rõ ý chí của mình và thống nhất thỏa thuận với nhau về các điều khoản mà các bên phải thực hiện. Từ căn cứ trên xác định các bên khi ký kết hợp đồng đã tuân thủ đúng các quy định tại các Điều 292, 298, Điều 299 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật tổ chức tín dụng năm 2010 và Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng nên là Hợp đồng hợp pháp, có hiệu lực.
[2.2] Xét yêu cầu của S1 buộc chị Lê Hằng N trả nợ tiền gốc là 24.907.993 đồng thì thấy: Sau khi cấp thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ chị N đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 105.871.520 đồng, chị N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 93.431.331 đồng, sau đó chị N không trả nợ nữa, vi phạm nghĩa vụ thanh toán 3 kỳ liên tiếp từ kỳ chốt thông báo giao dịch ngày 10/05/2023 đến kỳ chốt thông báo giao dịch ngày 10/08/2023 (vi phạm Điều 18 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên tại ngày chốt thông báo giao dịch 10/08/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày xét xử 28/6/2024, chị N còn dư nợ gốc là 24.907.993 đồng (Dư nợ cuối kỳ = dư nợ đầu kỳ + phí phát sinh trong kỳ + phí+ lãi – số tiền đã thanh toán). Điều này được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng giao nộp như: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng kèm theo Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân; bản Tóm tắt sao kê các ngày: 30/10/2023, 18/3/2024, 12/6/2024, 28/6/2024; các Công văn về việc hỗ trợ đôn đốc thanh toán nợ quá hạn số 130/2023/CV-CNTBI và số 131/2023/CV-CNTBI ngày 20/10/2023 về việc hỗ trợ đôn đốc thanh toán nợ quá hạn, Công văn số 139/2023/CV- CNTBI ngày 20/10/2023 về việc thông báo nợ quá hạn thẻ tín dụng. Căn cứ các tài liệu trên có đủ cơ sở xác định chị N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc số tiền 24.907.993 đồng cho S1, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của S1, buộc chị Lê Hằng N có nghĩa vụ trả số tiền dư nợ gốc nêu trên cho Ngân hàng.
[2.3] Xét Ngân hàng yêu cầu chị N trả nợ lãi quá hạn (theo Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) kể từ ngày 11/8/2023 đến ngày xét xử 28/6/2024, số tiền là 11.126.704 đồng (trên dư nợ gốc 24.907.993 đồng). Ngân hàng tính số tiền lãi quá hạn theo ngày, cụ thể 1 ngày lãi quá hạn = dư nợ áp dụng lãi suất quá hạn nhân (x) với lãi suất quá hạn (2,766% x 150%)/30 ngày. Như vậy từ thời điểm khách hàng vi phạm đến trước khi chuyển nợ nhóm 3, Ngân hàng có quyền chỉ áp dụng lãi suất trong hạn để hỗ trợ khách hàng, từ khi khách hàng chuyển nợ nhóm 3, Ngân hàng mới áp dụng mức lãi suất quá hạn 150% trên lãi trong hạn. Do đó, việc Ngân hàng áp dụng tính lãi suất quá hạn trên đây đúng với quy định tại các mục 18, 23, 24 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của S1, phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng. Do đó cần buộc chị N có nghĩa vụ trả nợ tiền lãi suất quá hạn theo yêu cầu của Ngân hàng.
[2.4] Chị N có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc + nợ lãi quá hạn cho Ngân hàng tổng cộng là 36.034.697 đồng.
[2.5] Từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, chị N có nghĩa vụ tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng kèm theo bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của S1 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
[2.6] Về án phí: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của S1 được chấp nhận nên S1 không phải nộp tiền án phí dân sự. Chị N vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên phải nộp tiền án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
[2.7] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào các Căn cứ các các Điều 117, 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự. Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 91, khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức Tín dụng. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
2. Tuyên bố:
2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1). Buộc chị Lê Hằng N, sinh năm 1997, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình, có nghĩa vụ trả nợ cho S1 số tiền dư nợ gốc là 24.907.993 đồng và số tiền lãi suất quá hạn tính đến ngày 28/6/2024 là 11.126.704 đồng, tổng cộng là 36.034.697 đồng (Ba mươi sáu triệu, không trăm ba mươi bốn nghìn, sáu trăm chín mươi bảy đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, chị Lê Hằng N phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền còn phải trả theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng kèm theo bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của S1 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Lê Hằng N phải nộp 1.802.000 đồng (làm tròn số) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho S1 số tiền 692.000 đồng tạm ứng án phí dân sự, S1 đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001168 ngày 06/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
5. Quyền thi hành: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hân |
Bản án số 08/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 08/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc chị Lê Hằng N phải trả toàn bộ các khoản nợ gốc, lãi quá hạn cho Ngân hàng TMCP S, số tiền tính đến ngày xét xử 28/6/2024 là36.034.697 đồng, trong đó: Nợ gốc: 24.907.993 đồng; lãi quá hạn:11.126.704 đồng
