Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Đ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08 /2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28/6/2024

V/v: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con.”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Diễm
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan – Ông Đinh Trọng Hà.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Huề – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đạ Tẻh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 152/2023/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2024/QÐST – HNGĐ ngày 04/6/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm: 1977
  • Trú tại: Thôn Hương Thuận, xã Đạ Lây, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng “Có mặt".
  • - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981
  • Trú tại: Thôn Hương Thuận, xã Đạ Lây, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng “Vắng mặt lần hai”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện ghi ngày 20 tháng 10 năm 2023 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Trần Văn Chất trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn C và chị Nguyễn Thị H kết hôn từ 28/10/2004 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đạ Lây, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Trong quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp, chị Nguyễn Thị H đi làm ăn xa, đôi lúc chị có về nhà thăm gia đình, tuy nhiện được một thời gian thì chị đi ngoại tình nên xảy ra mâu thuẫn vợ chồng và từ đó vợ chồng ngày càng mâu thuẫn. Do vậy, anh C nhận thấy không còn tình cảm với chị H nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn để anh ổn định cuộc sống.
  • - Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa anh, chị có với nhau 03 người con chung là Trần Thị Hiền Nh, sinh ngày 17/12/2005; cháu Trần Văn Ph, sinh ngày 22/3/2008 và cháu Trần Anh V, sinh ngày 03/5/2017. Hiện nay cháu Nh đã trưởng thành đủ 18 tuổi có thể tự lao động nuôi sống bản thân, tuy nhiên hai cháu là Trần Văn Ph, sinh ngày 22/3/2008 và cháu Trần Anh V, sinh ngày 03/5/2017 còn nhỏ đang sống cùng với anh C tại gia đình ông bà (mẹ của anh C) để đi học. Nay ly hôn anh có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 cháu là Ph và cháu V đồng thời không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai.

Ngoài ra anh Trần Văn C không trình bày hay yêu cầu gì khác.

2. Trong quá trình giải quyết vụ án tòa án đã tiến hành thông báo, triệu tập chị Nguyễn Thị H tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng chị H vắng mặt không có lý do.

Theo biên bản xác minh ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đ do địa phương cung cấp thì chị Nguyễn Thị H có nơi ở và hộ khẩu thường trú tại: Thôn Hương Thuận, xã Đạ Lây, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng tuy nhiên chị Hiền đi làm xa không ai rõ địa chỉ cụ thể của chị, thỉnh thoảng chị có về thăm nhà. Trong quá trình giải quyết vụ án chị H không cung cấp cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của mình, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ có ý kiến như sau:

  • - Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền, thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và mở phiên toà, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Văn C.
  • - Về con chung: Đề nghị xử giao con là Trần Văn Ph, sinh ngày 22/3/2008 và Trần Anh V, sinh ngày 03/5/2017 anh Trần Văn C trực tiếp nuôi con, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về án phí: Buộc anh Trần Văn C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị gì đối với việc thụ lý, giải quyết vụ án.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn anh Trần Văn C khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn và nuôi con đối với bị đơn chị Nguyễn Thị H có nơi cư trú tại: thôn Hương Thuận, xã Đạ Lây, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, xác định tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Hiền là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Văn C về ly hôn và nuôi con, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Đối với yêu cầu ly hôn của anh Trần Văn C:

Anh Trần Văn C và chị Nguyễn Thị H tự nguyện tìm hiểu, sau đó có đăng ký kết hôn từ ngày 28/10/2004 tại Uỷ ban nhân dân xã Đạ Lây, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, vì vậy quan hệ hôn nhân được xác lập giữa anh C và chị H là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ là biên bản xác minh ngày 31/5/2024 của Tòa án về tình trạng hôn nhân giữa anh chị tại địa phương thấy rằng: Anh Trần Văn C và chị Nguyễn Thị H không sống cùng nhau cũng như không có sự quan tâm, gần gũi và yêu thương nhau. Tuy anh Trần Văn C yêu cầu ly hôn nhưng chị H vẫn không ý kiến gì và cũng không có biện pháp khắc phục tình trạng hôn nhân. Như vậy, có đủ cơ sở để nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được mục đích. Vì vậy, căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình thì Hội Đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Trần Văn C với chị Nguyễn Thị H là có cơ sở pháp luật và phù hợp với thực tế.

[2] Đối yêu cầu được nuôi con của anh Trần Văn Chất:

Căn cứ đơn khởi kiện của anh C và tài liệu, chứng cứ kèm theo thể hiện trong quá trình chung sống giữa anh C, chị H có 03 con chung là Trần Thị Hiền Nh, sinh ngày 17/12/2005; cháu Trần Văn Ph, sinh ngày 22/3/2008 và cháu Trần Anh V, sinh ngày 03/5/2017. Hiện cháu Nh đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) tự nuôi sống bản thân, tuy nhiên 02 cháu là Trần Văn Ph, sinh ngày 22/3/2008 và Trần Anh V, sinh ngày 03/5/2017 đang sinh sống cùng anh C do anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo việc học tập.

Trên cơ sở lời trình bày của các cháu Ph và cháu V mong muốn được sống cùng với bố, hơn nữa chị H không yêu cầu gì trong vụ án này. Vì vậy, nhằm đảm bảo sự phát triển mọi mặt của con, đồng thời nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành và ổn định cuộc sống nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao các cháu Trần Văn Ph, sinh ngày 22/3/2008 và cháu Trần Anh V, sinh ngày 03/5/2017 cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Anh C không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Đối với tài sản chung, nợ chung:

Anh Trần Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là phù hợp.

[4] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát:

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp với nhận định của của Hội đồng xét xử.

[5] Về án phí:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Anh Trần Văn C khởi kiện ly hôn nên phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn C.

Anh Trần Văn C được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

Giao các cháu Trần Văn Ph, sinh ngày 22/3/2008 và cháu Trần Anh V, sinh ngày 03/5/2017 cho anh Trần Văn C trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Chị Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.

2. Về án phí: Anh Trần Văn C phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà anh đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007838 ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Xác nhận anh Trần Văn C đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND, VKSND tỉnh Lâm đồng;
  • - VKSND huyện, THADS huyện Đ;
  • - Cơ quan tiến hành đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký tên và đóng dấu)

Nguyễn Thị Mỹ Diễm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 08/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Chất ly hôn với Nguyễn Thị Hiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger