|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA Bản án số: 08/2024/HS-ST Ngày: 27-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tòng Văn Châm.
- Ông Vừ Vả Chứ.
- Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên tòa:
Ông Giàng A Mơ – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024, đối với bị cáo:
Quàng Văn T
tên gọi khác: Không, sinh năm 2004; số định danh cá nhân: 014204008004; nơi cư trú: Bản B, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Quàng Văn U và con bà: Quàng Thị P; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 27/6/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Phương V – Luật sư thực hiện trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 15 phút ngày 27/6/2024, tổ công tác Công an huyện S làm nhiệm vụ tại khu vực bản Sốp Nặm, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Quàng Văn T có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ được 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 08 viên nén hình trụ tròn màu hồng (nghi là ma tuý tổng hợp).
Ngày 28/6/2024, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng, kết quả: 08 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,74 gam, trích lấy 04 viên có khối lượng 0,38 gam làm mẫu giám định, ký hiệu T, còn lại 04 viên có khối lượng 0,36 gam lưu kho, ký hiệu T1.
Tại Kết luận giám định số 1408/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,38 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,74 gam; loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Sáng ngày 27/6/2024, Quàng Văn T là phụ xe khách Tuyến G - Thắng Lợi chạy tuyến Số P - Hải Phòng đi ăn sáng, uống rượu tại trung tâm huyện S. Sau khi ăn uống xong, Quàng Văn T đi bộ về bến xe huyện S, khi về đến đoạn đường thuộc bản S, xã S thì gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên T1, do muốn có ma tuý sử dụng nên T đã chủ động hỏi người đàn ông tên T1 có viên hồng phiến bán không, người đán ông đó trả lời có và nói muốn mua bao nhiêu, T trả lời muốn mua 300.000 đồng, rồi T đưa 300.000 đồng cho người đàn ông tên T1, nhận được tiền người đàn ông đó nói với T khoảng 30 phút sau đến tìm tại chậu hoa trước cổng Công ty đô thị huyện S, thuộc bản S, xã S. Sau đó T về bến xe S nghỉ được khoảng 30 phút thì đi bộ đến cổng Công ty Đ tìm ma tuý. Lúc đầu tìm không thấy do có nhiều chậu hoa nên T đã gọi Quàng Văn C, sinh năm 2009, trú tại bản Huổi Bó, xã C, huyện S cùng là phụ xe bảo C đến tìm đồ cùng, nhưng C chưa đến nơi thì T đã tìm thấy dưới chậu hoa 01 gói nilon màu trắng mở ra kiểm tra thấy có 08 viên nén màu hồng rồi gói lại như cũ cầm trong lòng bàn tay phải đi bộ về bến xe, đi được vài bước thì C đến, do sợ bị phát hiện nên T đưa gói ma tuý cho C và nói cầm hộ, không được mở ra kiểm tra, do không biết là ma tuý nên C cầm gói ma tuý cho vào túi quần bên trái rồi cùng T đi vào quán rửa xe ở gần đó thì bị tổ công tác Công an huyện S đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Cáo trạng số: 60/CT-VKSSC ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, truy tố Quàng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- - Bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử là không oan sai.
- - Kiểm sát viên sau khi trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và được miễn án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo.
- - Người Bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo đều dân tộc thiểu số, sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí thấp, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế. Sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất; miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận bổ sung. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an huyện S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định tội danh:
- - Hồi 14 giờ 15 phút ngày 27/6/2024, tổ công tác Công an huyện S làm nhiệm vụ tại khu vực bản Sốp Nặm, xã S, huyện S phát hiện, bắt quả tang Quàng Văn T có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ được của T 08 (tám) viên nén hình trụ tròn màu hồng, có tổng khối lượng 0,74 gam; theo kết luận giám định là chất ma tuý, thuộc loại Methamphetamine. Mục đích Tàng trữ để sử dụng cá nhân.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người chứng kiến; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Quàng Văn T đã phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vây, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan Điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được pháp luật quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung, đồng thời có thời gian cho bị cáo cai bỏ ma tuý.
[5] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án:
- - Đối với người đàn ông tên T1 theo bị cáo khai đã bán ma tuý cho bị cáo vào ngày 27/6/2024, tại khu vực bản S, xã S, huyện S. Quá trình điều tra bị cáo không xác định được đối tượng và địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, mở rộng vụ án là có căn cứ, cần chấp nhận.
- - Đối với Quàng Văn C, là người được bị cáo nhờ cầm hộ gói ma tuý. Tuy nhiên, C không biết là gói ma tuý. Việc C cầm hộ ma tuý cho bị cáo không được bàn bạc, thống nhất từ trước. Tại thời điểm bị cáo đưa ma túy cho C cầm, C mới được 15 tuổi 01 tháng 29 ngày. Do đó, C không phải đồng phạm với bị cáo, nên không đặt vấn đề xử lý.
[6] Vật chứng của vụ án còn lại: 04 viên ma tuý và các đồ vật liên quan là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về hình phạt bổ sung và án phí: Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và được miễn án phí.
[8] Về quan điểm của Kiểm sát viên và Luật sư như: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Quàng Văn T 05 năm tù (năm năm). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/6/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng đựng vật chứng ban đầu; 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 04 viên nén hình trụ tròn màu hồng (Methamphetamine); được đựng trong 01 (một) phong bì thư của Công an huyện S, tỉnh Sơn La, đã được niêm phong kín.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 60 ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sát huyện S và biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an sự huyện S, tỉnh Sơn La).
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 27/11/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Quyết |
Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 08/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
