TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:08/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27/09/2024 V/v “Ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Minh Đức
- Ông Võ Hoàng
-Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 09 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 04 năm 2024 về “Ly hôn, nuôi con chung”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 09 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị H; sinh năm 1994; địa chỉ: số B, ngõ G, đường B, thị trấn T, huyện C, tỉnh Chang Hoa, Lãnh thổ Đài Loan; địa chỉ liên hệ: 496/1/68 D, phường F, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lại Thị H1, địa chỉ: 4 D, phường F, quận G, thành phố H. (vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Ngô Văn L; sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T; địa chỉ: Thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Trong đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
1.1. Về hôn nhân: Chị và anh L kết hôn ngày 06 tháng 03 năm 2014 tại UBND xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Sau khi kết hôn chị và anh L có cuộc sống hòa thuận. Đến đầu năm 2020, vợ chồng chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi với nhau khiến tình cảm hai vợ chồng không còn như trước, chị và anh L sống ly thân từ năm đó cho đến nay. Sau nhiều lần hàn gắn tình cảm thì cuộc sống của chị và anh L vẫn không tiến triển. Ngày 03 tháng 07 năm 2023, chị sang Đài Loan sinh sống và làm việc. Đến nay tình cảm ngày càng cạn kiệt và không còn tình cảm với nhau nữa.
Sau một khoảng thời gian sống ly thân suy xét kĩ càng, chị cảm thấy tình cảm giữa vợ chồng đã không thể hàn gắn, không thể tìm được tiếng nói chung mục đích hôn nhân đã không đạt được, không thể cùng nhau xây dựng hạnh phúc, vun đắp cho gia đình. Vì vậy, để giải thoát cho cuộc hôn nhân, chị làm đơn này kính mong Quý Toà xem xét giải quyết cho chị và anh L được ly hôn, chấm dứt tình trạng hôn nhân như hiện nay, Cụ thể:
1.2. Về con chung: Chị và anh L có 02 con chung là cháu Ngô Ngọc Thùy A, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2013 và cháu Ngô Trần Hải Đ, sinh ngày 20 tháng 02 năm 2015. Chị đề nghị Tòa án giao cháu Ngô Ngọc Thùy A cho chị nuôi dưỡng; giao cháu Ngô Trần Hải Đ cho anh Ngô Văn L nuôi dưỡng. Không yêu cầu ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.
Trong thời gian chị sinh sống và làm việc tại Đài Loan thì tạm thời giao cháu Ngô Ngọc Thùy A cho bà nội là Nguyễn Thị T tại địa chỉ số B đường M, thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai nuôi dưỡng cho đến khi chị về Việt Nam với cháu Ngô Ngọc Thùy A.
1.3. Về tài sản chung và thực hiện nghĩa tụ chung về tài sản: Chị và anh L tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt và đơn xin rút ngắn thời gian giải quyết vụ án.
2. Bị đơn là anh Ngô Văn L trình bày:
2.1. Về hôn nhân: Anh và chị Trần Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 06/3/2014.
Trong quá trình chung sống thì anh và chị Trần Thị H chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn. Càng về sau, vợ chồng bắt đầu nảy sinh nhiều tranh cãi, mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng hơn. Nguyên nhân chủ yếu là do anh và chị Trần Thị H bất đồng quan điểm sống, tính cách của hai vợ chồng không còn hòa hợp, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn như ban đầu, ngày càng trở nên xa cách.
Ngày 13-07-2023, chị H đi sang Đài Loan sinh sống và làm việc. Từ đó, các mâu thuẫn vợ chồng càng thêm trầm trọng và khó giải quyết. Mặc dù, anh và chị Trần Thị H đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn, được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả, điều này ảnh hưởng đến cuộc sống của hai vợ chồng. Chính vì những mâu thuẫn trên mà anh và chị Trần Thị H đã sống ly thân được thời gian dài, cả hai không còn quan tâm đến đời sống của nhau nữa.
Nay, anh nhận thấy mâu thuẫn đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, cả hai đều không quan tâm đến nhau nên khi chị H đề đơn ly hôn Thì anh đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị H.
2.2. Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh và chị H có hai người con chung là cháu Ngô Ngọc Thùy A, sinh ngày 21-08-2013 và cháu Ngô Trần Hải Đ, sinh ngày 20-2-2015. Anh đồng ý với yêu cầu của chị H giao cháu A cho chị H nuôi dưỡng, giao cháu Đ cho anh nuôi dưỡng. Hai bên không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Trong thời gian chị H sinh sống, làm việc tại Đài Loan thì tạm thời giao cháu A cho bà nội là bà Nguyễn Thị T nuôi dưỡng cho đến khi chị Trần Thị H về Việt Nam.
2.3. Về tài sản chung: Anh và H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và có đơn xin rút ngắn thời gian giải quyết vụ án.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà là mẹ của bị đơn anh Ngô Văn L; là bà nội của cháu Ngô Ngọc Thùy A, cháu Ngô Trần Hải Đ bà có biết việc chị Trần Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với con bà là anh Ngô Văn L. Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị H.
Đối với yêu cầu nuôi con chung của chị H bà có ý kiến như sau: Bà đồng ý với yêu cầu của chị H giao cháu Ngô Ngọc Thùy A cho mẹ là chị H nuôi dưỡng; giao cháu Ngô Trần Hải Đ cho bố là ông Ngô Văn L nuôi dưỡng. Hiện nay, cháu Ngô Ngọc Thùy A đang do bà chăm sóc và nuôi dưỡng nên bà đồng ý tiếp tục chăm sóc, giáo dục cháu A cho đến khi chị H về nước bà sẽ giao lại cháu A cho chị H.
Bà đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
3.Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai có ý kiến như sau:
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Việc Tòa án thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về thụ lý vụ án, thẩm quyền giải quyết vụ án cũng như trình tự phiên tòa. Đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử.
Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn với Anh Ngô Văn L.
- Về con chung: Giao cháu Ngô Ngọc Thùy A cho mẹ là chị H nuôi dưỡng; giao cháu Ngô Trần Hải Đ cho bố là ông Ngô Văn L nuôi dưỡng. Trong thời gian chị H đang ở Đài Loan thì tạm giao cháu Ngô Ngọc Thùy A cho bà Nguyễn Thị T nuôi dưỡng cho đến khi chị H về Việt Nam thì bà T giao cháu A cho chị H. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng:
Chị Trần Thị H hiện đang cư trú, làm việc tại Đài Loan, còn anh Ngô Văn L đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Anh chị thống nhất lựa chọn Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết vụ án và chị H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với anh L, nên đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con chung có yếu tố nước ngoài theo quy định tại khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai quy định tại điểm a khoản 2 Điều 38 và điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án chị H, anh L, bà T đều có đơn xin xét xử vắng mặt, đơn xin rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, đề nghị không tham gia hòa giải và công khai chứng cứ. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai không mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về nội dung vụ án:
2.1.Về quan hệ hôn nhân:
Chị H, anh L kết hôn năm 2014 trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 06 tháng 03 năm 2014. Như vậy, chị H, anh L đã xác lập quan hệ vợ chồng theo qui định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Sau khi kết hôn chị H, anh L chung sống với nhau trong một thời gian. Sau đó, chị H chuyển sang sinh sống, làm việc ở Đài Loan cho đến nay. Chị H, anh L sống cách xa nhau nên không có điều kiện gần gũi, chăm sóc, động viên nhau trong cuộc sống nên tình cảm phai nhạt dần. Vì vậy, khi chị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh L cũng đồng ý, chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa chị H, anh L không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.
2.2. Về con chung: Chị H, anh L có hai con chung là cháu Ngô Ngọc Thùy A, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2013 và cháu Ngô Trần Hải Đ, sinh ngày 20 tháng 02 năm 2015. Nay ly hôn chị H, anh L thỏa thuận:
+Chị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Ngô Ngọc Thùy A cho đến khi cháu Ngô Ngọc Thùy A thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Do chị H đang ở đang ở nước ngoài nên bà Nguyễn Thị T nhận trách nhiệm tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Ngô Ngọc Thùy A cho đến khi chị H về Việt Nam với cháu A.
+Anh L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Ngô Trần Hải Đ cho đến khi cháu Ngô Trần Hải Đ thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
2.3.Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H, anh L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
2.4.Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự trình bày, họ tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí dân sự (về Hôn nhân gia đình) theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Điều luật áp dụng.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 38, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, điểm d khoản 1 Điều 469, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng khoản 25 Điều 3, Điều 51, Điều 53, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H.
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn với anh Ngô Văn L.
2.2. Về con chung:
- Giao cháu Ngô Ngọc Thùy A, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2013, cho chị Trần Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Ngô Ngọc Thùy A thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Tạm giao cháu Ngô Ngọc Thùy A cho bà Nguyễn Thị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi chị Trần Thị H về Việt Nam thì bà T giao cháu A cho chị H nuôi dưỡng.
- Giao cháu Ngô Trần Hải Đ, sinh ngày 20 tháng 02 năm 2015, cho anh Ngô Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Ngô Trần Hải Đ thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng cho con.
3. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000053 ngày 05-04-2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai; chị Trần Thị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy dịnh tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai theo quy định
Riêng đương sự ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa, thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Sỹ |
Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 08/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tạm giao con cho bà nội nuôi
