TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27/9/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Bình
Ông Lưu Đình Túy
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lại Thị Minh Hồng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện VKSND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Lê Xuân T - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2024/TLST – HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXX- ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự :
1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị H, sinh năm 1996 (Vắng mặt).
Nơi thường trú: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện tại: Bản N, xã M, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Bá C, sinh năm 1990 (Vắng mặt).
Nơi thường trú: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.
Hiện đang chấp hành án tại Trại T - Tổng cục V - Bộ C1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 02/7/2024 và bản tự khai ngày 07/8/2024 chị Lương Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Bá Chung kết H1 với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 14/6/2019.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được đến tháng 07 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C thường xuyên tụ tập bạn bè chơi bời, không chịu tu chí làm ăn nên vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, sống không có hạnh phúc, anh C còn đánh đập chị nên từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến tháng 7/2021 chị và anh C sống ly thân nhau, chị bế con về nhà bố mẹ đẻ ở tại bản N, xã M, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, từ đó cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Tháng 8/2022 chị H nhận được thông báo từ bố mẹ chồng về việc Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt anh C 08 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Chị thấy tình cảm giữa chị và anh C thật sự không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
Về con chung: Chị và anh C có 01 con chung là cháu Nguyễn Bá Chí D, sinh ngày 31/8/2019, từ trước đến nay cháu D ở với chị H. Nay ly hôn chị yêu cầu tiếp tục được nuôi con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh C tại Trại T - Tổng cục V - Bộ C1 theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Tại bản tự khai ngày 25/7/2024 anh C thống nhất với ý kiến chị H về thời gian và điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, anh cũng thừa nhận vợ chồng sống ly thân nhau đã gần hai năm, tình cảm vợ chồng không còn, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh C cũng đồng ý.
Về con chung: Anh C cũng thống nhất vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Bá Chí D, sinh ngày 31/8/2019. Giao cháu D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay anh C đang đi chấp hành án, nên anh đã có đơn đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc và tại phiên tòa, chị Lương Thị H cũng có đơn xin xét xử vắng mặt.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân nhân, nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị H và anh C.
Tại biên bản xác minh ngày 09/8/2024 theo báo cáo của bà Lê Thị L trưởng thôn Cựu Tự, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa trình bày. Chị Lương Thị H và anh Nguyễn Bá C sau khi kết hôn anh C và chị H có sinh sống tại địa phương, anh chị mâu thuẫn như thế nào thì anh chị không báo cáo nên bà không biết. Hiện nay anh C đang đi chấp hành án tại trại giam T1, tỉnh Thanh Hóa. Anh C chị H có một con chung là cháu Nguyễn Bá Chí D, sinh ngày 31/8/2019 hiện nay cháu D đang ở với chị H. Anh C chị H có những tài sản gì và nợ ai thì bà không nắm được. Nay chị H xin ly hôn anh C đề nghị Tòa án căn cứ vào pháp luật để giải quyết.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân gia đình và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị H được ly hôn anh Nguyễn Bá C.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bá Chí D cho chị H trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung, vì hiện nay anh C đang chấp hành án tại Trại T - Tổng cục V - Bộ C1 nên không có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc cháu D.
Về tài sản, công nợ: Anh C, chị H không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Về án Phí: Chị H phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Lương Thị H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc hôn nhân gia đình của chị và anh Nguyễn Bá C, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh C và chị H đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Lương Thị H và anh Nguyễn Bá Chung kết H1 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 14/6/2019 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa và được UBND xã Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy hôn nhân giữa chị Lương Thị H và anh Nguyễn Bá C là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn chị Lương Thị H và anh Nguyễn Bá Chung C sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do anh C không chịu tu chí làm ăn, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không có hạnh phúc, chị và gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng anh C không nghe mà còn đánh đập chị nên từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài được, anh C và chị H đã sống ly thân nhau, hiện nay anh đang chấp hành án tại Trại T - Tổng cục V - Bộ C1. Nay chị xét thấy tình cảm giữa chị và anh C không còn nên chị yêu cầu ly hôn anh C, anh C cũng đồng ý ly hôn mà muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng anh cũng không đưa ra được giải pháp để khắc phục tình cảm giữa anh và chị H, nên áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị H và anh C được ly hôn nhau.
[3] Về con chung: Chị H và anh C có 01 con chung cháu Nguyễn Bá Chí D, sinh ngày 31/8/2019. Từ trước đến nay chị Lương Thị H đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu D, chị H có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi cháu D. Anh C cũng đồng ý giao con cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh không phải cấp dưỡn nuôi cháu D vì hiện nay anh C đang đi chấp hành án nên không có điều kiện chăm sóc và cấp dưỡng nuôi cháu D. HĐXX chấp nhận sự thống nhất thỏa thuận về nuôi con của chị H và anh C, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.
[4] Về tài sản: Chị H, anh C không yêu cầu giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị H phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ: Điều 56, Điều 81, 82 ; 83 Luật hôn nhân gia đình. Khoản1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự ; Điểm a, khoản 1 Điều 24 ; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị H được ly hôn anh Nguyễn Bá C.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bá Chí D, sinh ngày 31/8/2019 cho chị Lương Thị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Bá C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản: Anh C chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Lương Thị H phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền ký hiệu: BLTU/23 số 0002014 ngày 22/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trịnh Thị Hà |
Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 08/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
